Chương 5: Mạng Lưới Bác Sĩ Không Thể Chỉ Dựa Vào Tình Nguyện
Mạng lưới bác sĩ tình nguyện bắt đầu từ một tin nhắn rất ngắn. Một đồng nghiệp cũ của Hải ở Huế viết: “Cuối tuần nào cần nội khoa thì gọi tôi.”
Hải đọc xong, suýt nữa gõ ngay: “Cuối tuần này xuống luôn.” Lan nhìn qua màn hình, chặn tay anh lại.
“Ai thẩm định hồ sơ chuyên môn?”
“Bạn anh mà.”
“Bạn anh không phải là quy trình.”
Hải thở dài, đặt điện thoại xuống. Từ một lời đề nghị đầy thiện chí, họ bắt đầu dựng nên một chương trình bác sĩ khách theo lịch. Không phải kiểu “ai rảnh thì về khám”. Mỗi người tham gia phải có hồ sơ chuyên môn phù hợp, phạm vi công việc rõ ràng, lịch đã thống nhất, quyền truy cập hồ sơ theo đúng vai trò, quy trình bàn giao và trách nhiệm theo dõi người bệnh sau đó.
Bởi nếu một bác sĩ chuyên khoa tới khám một ngày rồi đi, ai sẽ nhận kết quả xét nghiệm tuần sau? Nếu đổi thuốc, ai theo dõi tác dụng phụ? Nếu bệnh nhân gọi lại, phòng khám có biết ai chịu trách nhiệm không? Những câu hỏi ấy khiến kế hoạch chậm lại, nhưng thật hơn.
Người đầu tiên tham gia là bác sĩ Thuận, chuyên nội khoa. Anh xuống mỗi tháng hai buổi, và không làm miễn phí vô điều kiện. Phòng khám dùng quỹ hỗ trợ cho những bệnh nhân phù hợp, còn phần lớn chi phí chuyên môn được trả theo thỏa thuận.
“Tôi tình nguyện một số giờ thì được,” Thuận nói thẳng ngay buổi đầu ngồi bàn. “Nhưng nếu muốn tôi đi đều đặn hai năm thì phải tính công việc ra công việc.”
Hải đồng ý. Trước đây anh từng nghĩ bác sĩ về quê thì phải hy sinh. Giờ anh thấy trả công tử tế mới là cách tôn trọng cả người thầy thuốc lẫn người bệnh.
Sau nội khoa là những buổi nhi khoa định kỳ, rồi một số buổi tư vấn sản phụ khoa phối hợp với cơ sở phù hợp, rồi da liễu. Không phải chuyên khoa nào cũng được mở. Có một bác sĩ đề nghị làm vài thủ thuật mà phòng khám chưa có điều kiện lẫn giấy phép tương ứng. Hải từ chối.
“Tôi làm được mà,” người kia nói.
“Anh làm được không có nghĩa cơ sở này được làm.”
Nói xong, Hải chợt nhận ra câu đó giống hệt điều Lan từng nói với anh. Anh thấy mình đã học được thật.
Phòng khám bắt đầu công khai lịch khám chuyên khoa theo tháng. Nhân viên phân loại trước để tránh người dân tự đăng ký nhầm chuyên khoa. Bệnh nhân được biết bác sĩ khách chỉ có mặt theo lịch, và ai sẽ chịu trách nhiệm theo dõi tiếp. Hồ sơ không nằm rải rác trong laptop cá nhân của từng người. Thông tin được chia sẻ theo nhu cầu chăm sóc và đúng quyền truy cập.
Một bác sĩ trẻ muốn chụp ảnh “chuyến thiện nguyện” cùng bệnh nhân để đăng lên mạng. Lan nói:
“Chỉ khi người bệnh hiểu và đồng ý, và nếu họ từ chối thì việc khám không bị ảnh hưởng gì.”
Cậu bác sĩ hơi hụt hẫng. “Em chỉ muốn kêu gọi thêm người tham gia thôi chị.”
“Mục đích tốt không làm sự đồng ý bớt cần thiết.”
Cuối cùng họ chụp một tấm ảnh cả đội đứng trước cửa phòng khám, nắng chiều hắt lên tấm biển. Không cần gương mặt bệnh nhân nào làm bằng chứng cho lòng tốt.
Bác sĩ Hương đề xuất họp quản trị chuyên môn hằng tháng. Hải bật cười: “Phòng khám bé tí mà họp như bệnh viện.”
“Nhiều người từ nhiều nơi tới thì càng phải thống nhất,” chị đáp.
Cuộc họp xem lại các ca chuyển tuyến, sự cố, vấn đề về thuốc, lời phàn nàn, những lượt theo dõi bị trễ và các thay đổi hướng dẫn điều trị liên quan. Không ai dùng buổi họp để kể thành tích. Có tháng, một bác sĩ khách kê một loại thuốc không có trong danh mục quen thuộc, khiến nhân viên quầy không biết hướng dẫn theo dõi thế nào theo quy trình nội bộ. Không có biến cố nghiêm trọng, nhưng đó là một tín hiệu. Họ bổ sung bước đối chiếu thuốc, và yêu cầu mọi bác sĩ khách ghi rõ kế hoạch theo dõi chứ không chỉ chẩn đoán và đơn thuốc.
Tháng khác, một bệnh nhân phàn nàn rằng mình phải kể cùng một câu chuyện ba lần cho ba người. Hải thấy xấu hổ. Hồ sơ dùng chung thì có, nhưng cấu trúc ghi chép quá lộn xộn. Cả nhóm sửa lại mẫu bệnh án. Không phải vấn đề nào cũng cần mua máy để giải quyết.
Nói đến máy, phòng khám nhận được đề nghị tặng một chiếc máy siêu âm cũ từ một đơn vị. Hải rất muốn nhận. Bác sĩ Hương hỏi:
“Ai được đào tạo để dùng?”
“Sẽ đào tạo.”
“Bảo trì?”
“Chưa rõ.”
“Kiểm soát chất lượng hình ảnh?”
“Chưa.”
“Hỏng thì ai sửa?”
“Chưa biết.”
“Máy miễn phí có thể là một khoản chi rất đắt,” chị kết luận.
Họ chưa nhận ngay. Cả nhóm đánh giá nhu cầu, tần suất sử dụng, năng lực của người làm và đường chuyển tuyến tới những nơi đã có sẵn dịch vụ. Chỉ khi có kế hoạch sử dụng và bảo trì rõ ràng, thiết bị mới được bổ sung. Hải từng nghĩ tài trợ là lời giải cho mọi thiếu thốn. Giờ anh hiểu thiết bị không có hệ thống đi kèm chỉ đẻ thêm rủi ro và những kỳ vọng hão.
Vì thế, “mạng lưới bác sĩ về quê” không bùng lên thành phong trào trăm người trong vài tuần. Nó lớn chậm. Sau sáu tháng có tám bác sĩ tham gia định kỳ ở các mức độ khác nhau. Có người thử một thời gian rồi dừng vì lịch gia đình hoặc công việc, và không ai bị coi là thiếu lý tưởng.
“Chương trình tốt phải cho phép người ta rời đi mà bệnh nhân không mất người chăm sóc,” Hải nói trong một buổi họp.
Vì vậy buổi khám nào cũng có bàn giao. Không để bệnh nhân nào chỉ có mỗi số Zalo cá nhân của một bác sĩ khách mà không ai khác nắm được ca bệnh. Lan còn đề nghị trả chi phí đi lại cho một số bác sĩ ở xa.
“Tình nguyện mà em?” Hải hỏi.
“Tình nguyện không có nghĩa là phải tự gánh mọi chi phí.”
Khoản hoàn tiền đi lại được đưa vào ngân sách.
Một thời gian sau, Sở Y tế biết tới mô hình và mời nhóm lên trình bày. Không có cảnh trao máy móc tại chỗ hay bắt tay chụp ảnh. Cuộc họp diễn ra kỹ lưỡng. Người ta hỏi phòng khám đang phục vụ nhóm nào, trùng lặp với tuyến công ở đâu, luồng chuyển tuyến ra sao, dữ liệu được bảo vệ thế nào, ai chịu trách nhiệm chuyên môn, tài chính có bền không, chỉ số chất lượng là gì. Hải thấy vui vì không ai hỏi trang Facebook của phòng khám được bao nhiêu lượt thích.
Kết quả không phải lời tuyên bố “mô hình cả nước nên học tập”. Đó là một đề nghị hợp tác có giới hạn: chia sẻ danh bạ chuyển tuyến cập nhật, phối hợp một số hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng có mục tiêu rõ ràng khi phù hợp, tham gia các lớp tập huấn, và đánh giá dữ liệu sau một thời gian trước khi nói tới chuyện mở rộng.
Hải thích như vậy hơn. Anh từng rất dễ say vì lời khen. Giờ câu “cứ đo đã rồi hẵng nhân rộng” nghe đáng tin hơn nhiều.
Một buổi cuối tuần, phòng khám có ba bác sĩ khách cùng làm việc. Hải đi ngang khu chờ thì nghe một bà cụ hỏi nhân viên:
“Bữa nay bác sĩ Hải có khám không con?”
“Dạ bác khám với bác sĩ Thuận được ạ, hồ sơ của bác vẫn ở đây. Nếu cần thì bác sĩ Hải sẽ phối hợp.”
Bà cụ gật đầu, không phản đối, cầm số thứ tự ngồi xuống ghế. Hải đứng sau cánh cửa, bất ngờ thấy lòng nhẹ hẳn.
Ngày trước anh muốn người ta tới vì mình. Bây giờ anh muốn họ được chăm sóc dù anh có mặt hay không.
Đó mới là lúc hai chữ “mạng lưới” bắt đầu có nghĩa.