Chương 11: Chuỗi Lô Không Biết Nói Dối
Chuỗi lô không biết nói dối. Nhưng bảng tổng hợp thì có thể.
Báo cáo đánh giá cuối cùng của bên mua không viết nguyên văn như vậy. Đó là cách Đăng tóm lại sau khi đọc gần sáu mươi trang phụ lục, ngồi tới khuya trong văn phòng nhỏ của hợp tác xã. Vấn đề của VietHoney không nằm ở một hũ mật nào, mà nằm ở phép đối soát.
Trong một giai đoạn, khối lượng bán ra dưới nhãn “bạc hà Đồng Văn” cao hơn khối lượng nguyên liệu cùng nguồn mà hồ sơ mua vào có thể giải thích. Một phần chênh lệch được bù bằng nguyên liệu từ các tỉnh khác và từ những nguồn gom chung không ghi rõ xuất xứ. Hồ sơ nội bộ có phân loại là mật phối trộn, nhưng ở một số mẻ bán ra, nhãn và tài liệu gửi khách hàng vẫn thể hiện là nguồn đơn vùng.
Đoàn đánh giá còn phát hiện hai mẻ có kết quả nhóm chỉ tiêu xác thực cần điều tra thêm về khả năng lẫn đường ngoại sinh. Không phải “chín mươi phần trăm là si-rô”, cũng không phải “chất độc gấp hai trăm lần” như mạng xã hội thích đồn thổi. Đó là một vấn đề ít kịch tính hơn nhiều, nhưng đủ nghiêm trọng.
Bên mua tạm dừng các mẻ liên quan và yêu cầu biện pháp khắc phục. Công ty cũ mở điều tra nội bộ. Hội đồng thành viên đình chỉ quyền phê duyệt nguồn nguyên liệu của Hoàng Duy Khang trong thời gian rà soát.
Đăng biết tin qua luật sư, chứ không phải qua màn hình LED nào ở hội chợ. Cùng ngày, Lương Mỹ Hạnh làm việc với nhóm đánh giá và giao nộp các email liên quan tới việc thay nhãn. Cô cũng thừa nhận đã ký một số tài liệu bán hàng dù biết hồ sơ nguồn chưa đầy đủ.
Luật sư của Đăng hỏi: “Anh có muốn dùng lời khai của cô ấy trong tranh chấp với công ty không?”
“Chỉ phần liên quan, nếu hợp pháp và thật sự cần.”
“Không muốn gặp cô ấy?”
Đăng nghĩ một lúc. “Chưa.”
Vụ tăng vốn từng đẩy Đăng ra khỏi công ty cũ cũng có kết quả sơ bộ. Thủ tục tăng vốn không bị hủy hoàn toàn: Đăng đã được thông báo đúng hạn, anh thật sự không góp thêm, và tỷ lệ của anh bị pha loãng theo đúng điều lệ. Nhưng có một vấn đề về giao dịch với bên liên quan trong khâu định giá và phân bổ phần vốn, và hội đồng phải giải trình.
Luật sư nói thẳng: “Khả năng anh lấy lại quyền kiểm soát trang trại là thấp.”
Đăng nhìn tập giấy. “Tôi cũng không còn muốn kiểm soát nó nữa.”
“Vậy mục tiêu của anh là gì?”
“Làm rõ phần vốn và quyền đối với dữ liệu của tôi. Nếu định giá sai thì xử lý cho đúng.”
“Còn quy trình giảm ẩm?”
Hai bên đã cùng thuê một chuyên gia kỹ thuật độc lập. Kết luận đưa ra khá rõ: phương pháp chung giảm ẩm ở nhiệt độ thấp không phải là ý tưởng có thể thuộc về riêng một người; còn các thông số, thiết kế cụ thể và tài liệu triển khai cũ thì thuộc về công ty, ở phần được phát triển trong quá trình hoạt động. Quy trình mới của Đăng khác đủ nhiều về thiết bị và logic điều khiển, nên theo đánh giá kỹ thuật, trong phạm vi tranh chấp hiện tại, không bị coi là bản sao trực tiếp.
“Tức là chẳng ai sở hữu chuyện ‘giảm ẩm mật ong’ cả.” Đăng nói.
Luật sư bật cười. “May mà cuối cùng anh cũng hiểu.”
Một tháng sau, Hoàng Duy Khang hẹn gặp. Không phải ở trang trại, mà ở một quán cà phê nhỏ tại thành phố Hà Giang, bàn kê sát cửa kính nhìn ra đường. Khang trông mệt mỏi hơn nhiều so với đêm ở cánh cổng, quầng mắt thâm, cổ áo sơ mi nhàu.
“Mày thắng rồi.” Câu mở đầu ấy làm Đăng khó chịu.
“Tao không thắng công ty mày.”
“Bên mua dừng hợp đồng. Hội đồng treo quyền tao. Hạnh nộp email.” Khang cười khô khốc. “Còn gì nữa?”
“Đó là hậu quả của hồ sơ bên mày.”
“Mày không gửi mẫu đi kiểm à?”
“Có.”
“Không đào số liệu sản lượng à?”
“Có.” Đăng không chối.
“Thế còn giả bộ.”
Đăng nhìn hắn. “Tao làm vì bên mày dùng báo cáo chì, gắn tên dự án của tao vào.”
“Tao không làm cái bản quét đó.”
“Mày có bằng chứng không?”
Khang bật cười. “Giờ mày nói chuyện như luật sư.”
“Tao đang học cách không đoán.”
Khang quay ra nhìn dòng xe ngoài đường. Một lúc sau, hắn nói: “Tao không bảo Hạnh sửa báo cáo chì.”
“Tao chưa nói Hạnh làm.”
“Cô ấy khai với bên đánh giá là có người bên marketing thuê một công ty dịch vụ ngoài.”
Đăng không hỏi tên người đó. Nếu có sai phạm, cứ để hồ sơ lần ra.
Khang vò mép tờ khăn giấy. “Mày có biết vì sao tao tăng sản lượng không?”
“Vì tiền.”
“Tất nhiên là vì tiền.” Khang nhìn anh. “Nhưng không chỉ là tiền cho tao. Nhà máy vay vốn để mở. Hợp đồng với bên mua có sản lượng tối thiểu. Chỉ cần một mùa hụt là vỡ điều khoản cam kết với ngân hàng, và họ siết ngay.”
“Vậy mày mua nguồn khác.”
“Ừ.”
“Có thể bán dưới nhãn phối trộn.”
“Bên mua trả thấp hơn.”
“Nên mày giữ nguyên nhãn đơn nguồn.”
Khang không trả lời. Và Đăng nhìn thấy điều mà anh từng không muốn thấy: Khang không bắt đầu bằng ý định bán hàng sai nhãn. Hắn bắt đầu bằng một cam kết sản lượng quá lớn, rồi dùng quyết định sau để che quyết định trước, cứ thế từng bước một.
“Mày có hối hận vì đã loại tao không?” Đăng hỏi.
Khang cười. “Nếu mày còn ở đó, mày sẽ không để tao ký hợp đồng sản lượng.”
“Đúng.”
“Vậy thì lúc đó tao vẫn loại mày.”
Ít nhất hắn thành thật. Đăng đứng dậy. “Tao không cần mày xin lỗi.”
“Tao cũng không định xin.” Khang đáp. “Nhưng có một chuyện.”
Đăng dừng lại bên bàn.
“Cuốn sổ xanh của mày.” Khang nói. “Luật sư công ty đã xác nhận nó có từ trước khi lập pháp nhân. Bọn tao không đòi nữa.”
Đăng gật đầu. “Cảm ơn đã nói.”
“Mày sẽ làm gì với nó?”
Đăng nghĩ tới những trang ghi ngày hoa nở, độ ẩm, những mùa đàn ong chết rét. “Tiếp tục ghi.”
Anh rời quán. Không có còng tay, không có ai quỳ xuống. Chỉ có một doanh nghiệp đang phải sửa những gì mình đã làm, một người đồng sáng lập mất quyền điều hành, và một tranh chấp vẫn còn phải đi qua từng bước pháp lý riêng. Với Đăng, như thế đã thật hơn mọi màn lật kèo trên sân khấu.