Chương 5: Bảy ngày thẩm định độc lập
Bảy ngày thẩm định bắt đầu bằng một yêu cầu khiến Minh có cảm giác mình bị đẩy ra ngoài chính câu chuyện của mình: hội đồng chưa cho hai bên trình bày trực tiếp. Mỗi bên phải nộp dữ liệu trước, để một nhóm kỹ thuật độc lập xem xét.
Minh đã sống cùng những bản vẽ ấy suốt ba năm. Anh nhớ vì sao một đường nét được thêm vào, vì sao một cấu kiện bị bỏ đi, vì sao một phương án tưởng đã ổn lại phải làm lại từ đầu. Vậy mà giờ đây, những điều anh có thể giải thích ngay lập tức đều phải nằm yên trong hồ sơ, chờ người khác đặt câu hỏi.
“Tôi là người hiểu công trình của mình nhất,” anh nói với bà Phương. Câu ấy nghe giống một lời phản đối hơn là một nhận định.
“Chính vì thế, anh khó khách quan nhất khi tự xác nhận mình đúng.” Bà nói mà không ngẩng lên khỏi tập giấy.
“Tôi có thể giải thích từng thay đổi.” Anh nói thêm, giọng gần như cố chấp.
“Đến lúc họ hỏi thì giải thích.” Bà gập máy tính lại. “Bây giờ cứ để họ kiểm tra dữ liệu trước đã.”
Minh không đáp. Điều làm anh sốt ruột cũng chính là điều anh đã đòi hỏi ở phía bên kia: mọi lời nói phải được đối chiếu với quá trình làm việc. Nếu muốn hội đồng áp dụng nguyên tắc ấy cho Tuấn, anh phải chấp nhận nó cho chính mình, kể cả khi nó khiến anh phải ngồi im.
Nhóm thẩm định yêu cầu toàn bộ chuỗi phiên bản liên quan tới bốn chi tiết đang tranh chấp: hình học giếng trời, lõi kỹ thuật, hệ mương tràn và hệ cửa chớp đón gió mùa đông bắc. Một bản hoàn chỉnh, dù đẹp tới đâu, cũng không cho thấy các chi tiết ấy đã hình thành ra sao. Phía Phúc An cũng được yêu cầu nộp lịch sử tệp nội bộ của dự án Green Village để đối chiếu.
Sang ngày thứ hai, hồ sơ đối phương lộ ra một điểm có lợi cho họ. Trên máy chủ của Phúc An vẫn còn lưu mô hình nhà chống ngập Nguyễn Tuấn thực hiện từ năm 2022, trong đó đã có lõi kỹ thuật giữa nhà, mái thu nước và hệ sàn nâng. Tuấn lập tức gửi thông cáo nội bộ, khẳng định các nguyên lý cốt lõi của Green Village đã có từ trước Làng Xanh.
Minh đọc đi đọc lại câu ấy rồi đặt hai mô hình cạnh nhau trên màn hình. Một lúc lâu sau, anh nói: “Anh ta không sai hoàn toàn.”
“Tốt,” bà Phương nói, và lần này bà có vẻ hài lòng thật.
Minh quay sang, nửa bực nửa buồn cười. “Sao ai cũng thích nói chữ đó với tôi vậy?”
“Vì anh bắt đầu phân biệt được phần nào của đối thủ là đúng.” Bà gõ nhẹ đầu bút lên mép bàn.
Anh nhìn lại màn hình. Những nguyên lý lớn quả thật đã có từ trước. Anh không thể lấy ba năm lao động của mình làm cớ để nhận luôn những điều người khác cũng từng nghiên cứu. Cố bảo vệ cả phần không thuộc về mình chỉ khiến phần có thể chứng minh trở nên kém thuyết phục.
Minh viết lại bản giải trình. Anh không nhận quyền đối với ý tưởng nhà chống ngập nói chung, cũng không nhận mái thu nước hay sàn nâng là sáng tạo riêng. Điều anh yêu cầu làm rõ là quá trình hình thành một tổ hợp chi tiết cụ thể. Tháng Tư năm 2023, giếng trời còn nằm giữa trục. Tháng Sáu, nó được dịch đi 600 milimét. Tháng Tám, anh tiếp tục điều chỉnh vị trí và xoay giếng trời. Phiên bản tháng Mười một còn sót một dầm phụ thừa 180 milimét, phải sang tháng Một năm 2024 mới được sửa.
Hồ sơ Green Village dùng đúng trạng thái của tháng Mười một, gồm cả chỗ Minh đã loại bỏ ở phiên bản sau.
Trong buổi hỏi đáp kỹ thuật, anh chỉ vào hai mô hình trên màn chiếu. “Nếu họ dùng bản cuối, phần dầm thừa này đã không còn. Bản được chuyển đi là một phiên bản đang ở giữa quá trình.”
“Ai có tệp tháng Mười một?” một thành viên nhóm thẩm định hỏi.
Minh mở danh sách chia sẻ cũ. Có ba cái tên: anh, kỹ sư Trần Đức Sơn và Khánh Vy. Khi tên Vy được đọc lên, anh vẫn nhìn thẳng vào danh sách. Ba cái tên ấy vốn chỉ là những người từng cùng anh xem một bản vẽ. Bây giờ, từng người đều phải được đặt lại đúng vị trí của mình trên đường đi của bộ hồ sơ.
Người ấy hỏi tiếp bà Vy nhận tệp với mục đích gì. “Góp ý kế hoạch triển khai,” Minh đáp. Khi được hỏi bà ấy có quyền chuyển tiếp hay không, anh nói thật rằng mình không ghi hạn chế nào bằng văn bản. “Anh xác nhận điều đó?” người kia hỏi lại, như để chắc chắn.
“Tôi xác nhận.” Luật sư phía Phúc An lập tức ghi lại. Minh biết câu trả lời ấy bất lợi cho mình, nhưng anh không thể vì đến hôm nay mới thấy thiếu một điều khoản mà nói như thể điều khoản ấy đã luôn tồn tại.
Ngày thứ ba, Đức Sơn đồng ý xác nhận thư điện tử gốc, nhưng không muốn xuất hiện công khai. Qua điện thoại, giọng anh ấy ngượng ngập: “Công ty anh đang thầu gói của Phúc An.”
“Em hiểu,” Minh nói. Sơn thở dài: “Anh xin lỗi.”
“Không cần đâu anh,” Minh nói. “Em chỉ cần anh xác nhận thư là thật nếu được hỏi.”
“Việc đó thì anh làm được.” Lần này giọng Sơn chắc chắn hơn hẳn.
“Thế là đủ rồi.” Minh không đòi thêm. Điều anh cần ở Sơn là một lời xác nhận về thứ Sơn thực sự đã nhận, không phải bắt người ấy chọn giữa anh và công việc của mình.
Ngày thứ tư, Nguyễn Tuấn đến trình bày cùng đội kỹ sư. Mô hình vật lý họ mang theo đẹp và hoàn chỉnh hơn bất kỳ mô hình nào Minh từng làm. Anh ngồi phía đối diện, nhìn kỹ phần kết cấu, cách bố trí vật liệu, hệ lắp ghép. Đội của Tuấn đã làm được những việc có giá trị thật; khả năng thi công của phương án được cải thiện rõ rệt. Nhận ra điều đó khiến Minh khó chịu, nhưng nhìn lâu hơn cũng không làm những cải tiến ấy biến mất.
“Tôi chưa bao giờ nói mình phát minh ra toàn bộ kiến trúc chống ngập,” Tuấn mở lời. “Tôi nhận phương án ý tưởng từ Khánh Vy, khi cô ấy nói dự án không được tiếp tục. Đội của tôi phát triển nó thành một phương án có thể triển khai.”
“Vậy tại sao hồ sơ dự giải ghi ông là tác giả duy nhất?” một thành viên hội đồng hỏi.
Tuấn ngừng một nhịp. “Vì phần nộp giải là bản do đội tôi hoàn thiện.”
“Ông có biết phương án ý tưởng ban đầu do ông Minh phát triển không?” Tuấn đáp ngắn gọn rằng có biết.
“Ông có xin phép đứng tên không?” Lần này Tuấn im lâu hơn rồi mới nói: “Không theo cách chính thức.”
Minh nhìn người ngồi đối diện. Tuấn cứ quay về với phần việc đội mình đã làm, như thể chỉ cần chứng minh mình bỏ thêm đủ công sức thì câu hỏi về nguồn gốc cũng sẽ tự được giải quyết. Nhưng chính ở chỗ này, hai chuyện phải được tách riêng: những cải tiến có thật của Phúc An, và việc hồ sơ ghi tên một người duy nhất cho toàn bộ phương án.
Người chủ trì quay sang anh. “Anh Minh, anh có phủ nhận phần phát triển của đội Phúc An không?”
“Không.” Minh trả lời không chút do dự.
Tuấn ngẩng phắt lên. Minh nhìn lại mô hình một lần nữa trước khi nói tiếp: “Phần tối ưu hệ liên kết kết cấu thép, các mô-đun mặt dựng và giải pháp sản xuất hàng loạt không phải do tôi làm. Nhưng phương án ý tưởng ban đầu cùng bốn chi tiết đang tranh chấp có lịch sử phát triển từ trước khi họ nhận được bộ tệp.”
“Vậy anh muốn hội đồng ghi nhận điều gì?” người chủ trì hỏi. Minh đáp: “Ghi đúng tác giả của từng phần.”
Câu trả lời ấy không đem lại cho Minh một chiến thắng tuyệt đối. Nhưng đó là điều anh có thể tiếp tục bảo vệ khi hồ sơ được mở lại, khi từng chi tiết bị đem ra hỏi.
Ngày thứ năm, Khánh Vy đến làm việc một mình. Cô mặc chiếc áo khoác xám Minh từng mua cho cô vào mùa đông năm ngoái, ngồi thẳng lưng trước hội đồng. “Tôi gửi tệp tháng Mười một cho anh Tuấn,” cô xác nhận. “Ban đầu là để đánh giá khả năng đầu tư.”
Hội đồng hỏi ông Minh có đồng ý chuyện đó không. Vy đáp thẳng: “Tôi không hỏi.”
“Sau khi biết dự án được nộp giải thì sao?”
Vy nhìn xuống mặt bàn. “Tôi không phản đối.”
“Vì sao?” Câu hỏi được nhắc lại khi Vy im lặng quá lâu. Cô ngẩng lên: “Vì tôi tin nếu Minh cứ làm theo cách của anh ấy, dự án sẽ không bao giờ rời khỏi bàn vẽ.”
Minh ngồi nghe, không ngắt lời. Anh đã nghe nỗi thất vọng ấy trong chính căn nhà của họ. Ở đây, nó được nói lại trước những người cần biết vì sao bộ tệp bị chuyển đi và điều gì đã xảy ra sau đó.
Vy nói tiếp, nhỏ hơn: “Phúc An cũng hứa cho tôi một vị trí nếu bộ phận thiết kế mới thành công.” Cô nói câu ấy mà không nhìn về phía Minh.
Minh nghe rõ từng chữ. Trong lời xác nhận ấy có cả mong muốn đưa dự án ra thực tế lẫn một cơ hội nghề nghiệp dành cho Vy. Anh không cần phải đoán thay cô nữa, cũng không cần chọn tin vế này mà bỏ vế kia.
Ngày thứ sáu, nhóm thẩm định đối chiếu mã kiểm tra dữ liệu, thư điện tử, các tệp mô hình cùng thông tin về nguồn gốc và thời điểm lưu từ những nguồn độc lập. Lời giải thích của hai bên được đặt cạnh dữ liệu để kiểm tra, kể cả những phần bất lợi cho chính người đã cung cấp chúng. Minh dành cả ngày hôm ấy ở nhà, không làm gì ngoài việc chờ, và nhận ra chờ đợi còn mệt hơn mọi đêm thức trắng vì bản vẽ.
Đến ngày thứ bảy, nhóm thẩm định gửi bản kết luận sơ bộ dài mười hai trang. Minh đọc thật chậm. Hồ sơ xác lập rằng phương án ý tưởng Làng Xanh và quá trình phát triển bốn chi tiết kỹ thuật chính là của anh, có trước thời điểm Phúc An tiếp nhận bộ tệp. Đồng thời, bản kết luận ghi nhận đóng góp độc lập của đội Nguyễn Tuấn trong phần phát triển theo hướng công nghiệp hóa sau đó.
Việc ghi Nguyễn Tuấn là tác giả duy nhất trong hồ sơ dự giải không phản ánh đúng nguồn gốc tác phẩm. Đề cử Green Village bị tạm đình chỉ, chờ hội đồng chuyên môn quyết định cách xử lý.
Minh dừng lại ở chữ “sơ bộ”, rồi đọc tiếp cho tới hết. Chưa có quyết định cuối cùng về đề cử. Những trang giấy ấy cũng không xóa đi phần việc Phúc An đã làm, hay biến mọi nguyên lý anh dùng thành sáng tạo riêng của anh.
Trong đó không có những chữ anh từng thấy người ta ném vào nhau trên mạng. Bản kết luận chỉ nói phần nào hình thành trước, phần nào được phát triển sau, và vì sao cách ghi tên hiện tại cần được xem xét lại.
Lần đầu tiên sau nhiều ngày, Minh thấy quá trình làm việc của mình hiện ra theo một trình tự mà người khác có thể kiểm tra. Ba năm ấy không còn chỉ là câu chuyện do một mình anh kể lại. Anh gập máy, ngồi yên trong căn phòng tầng ba thêm rất lâu, và lần đầu tiên sau nhiều tuần, không mở thêm một tệp nào.