Chương 5: Bốn mươi bảy cây con
Chúng tôi đánh số bốn mươi bảy cây con bằng những chiếc thẻ nhôm nhỏ buộc dây thép. Không đặt tên đẹp, không gọi là “hậu duệ cổ thụ”, không chụp ảnh quảng cáo. Chỉ có số, từ một đến bốn mươi bảy.
Hà Miên bảo nếu đặt tên sớm, chúng tôi sẽ vô thức thiên vị những cây mình thích. Lúc đầu tôi nghĩ cô hơi quá. Ba tháng sau, tôi nhận ra cô nói đúng.
Cây số mười bảy là cây tôi thích nhất. Nó mọc dưới một vách đá hướng đông, thân mảnh, lá hơi nhỏ, vượt qua đợt nóng tháng ba rất tốt. Mẻ trà làm thử từ nó có mùi hoa trắng, hậu vị sạch. Tôi bắt đầu mong nó thắng. Mà khi đã mong một cây thắng, người làm trà rất dễ tha thứ cho những khuyết điểm của nó.
Hà Miên buộc mọi mẫu nếm phải được mã hóa. Tôi không được biết chén nào thuộc về cây nào. Đó là một trải nghiệm khó chịu, vì tôi vẫn luôn tự hào rằng chỉ cần ngửi là biết trà từ sườn đồi nào. Trong buổi nếm mù đầu tiên, giữa hai mươi chén trà xếp thành hàng trên tấm phản gỗ, tôi xếp cây mười bảy đứng thứ tám.
Tôi ngồi nhìn phiếu điểm của mình rất lâu. Chén tôi chấm cao nhất hôm ấy hóa ra đến từ một cây con mọc ven lối mòn, lá to, dáng xấu, cây mà tôi đã định đề nghị nhổ đi từ mùa trước vì nó chắn đường gánh trà. Còn chén mười bảy, khi được nếm mà không có cái tên đi kèm, chỉ là một chén trà thơm nhẹ, hơi mỏng, hậu không đọng lâu.
“Buồn à?” Hà Miên hỏi.
“Một chút.”
“Tốt.”
“Tốt chỗ nào?”
“Anh vừa phát hiện ra mình cũng có định kiến.”
Tôi không thích câu đó, nhưng tôi giữ nó lại trong đầu.
Chúng tôi theo dõi các cây theo ba tiêu chí lớn: sức sống qua những đợt nóng và khô, chất lượng trà qua nhiều mùa, và khả năng sinh trưởng mà không cần đầu tư phân bón hay nước tưới quá nhiều. Không chọn cây chỉ vì một năm cho trà ngon, cũng không chọn cây chỉ vì sống khỏe mà trà dở.
Rắc rối lớn hơn lại nằm ở chuyện quyền sở hữu. Khi tin về nhóm cây con lan ra, một doanh nghiệp giống cây trồng dưới xuôi tìm lên. Họ đề nghị tài trợ nghiên cứu, đổi lại được độc quyền nhân giống những cá thể tốt nhất. Con số họ đưa ra đủ để hợp tác xã sửa đường, xây nhà sao mới và trả hết nợ quỹ.
Hoàng Sử ủng hộ ngay. “Đây là tiền thật đấy.”
Sính cũng dao động. “Nếu họ lấy giống đi bán thì mình vẫn còn trà cổ mà.”
Hà Miên hỏi từng câu một, chậm rãi: “Cây con mọc trên đất của ai?”
“Đất cộng đồng và đất của các hộ.”
“Ai chăm?”
“Người trong bản.”
“Dữ liệu ai thu?”
“Chúng ta.”
“Vậy tại sao một công ty lại được độc quyền giống chỉ vì bỏ tiền vào năm thứ ba?”
Người đại diện doanh nghiệp là một người đàn ông trung niên, nói năng từ tốn. “Chúng tôi chịu chi phí nhân giống, khảo nghiệm và thương mại hóa. Không có đầu tư, giống tốt đến mấy cũng chỉ nằm trên núi.”
Ông ta không sai. Nhân giống sạch bệnh, kiểm tra độ ổn định và phân phối ra thị trường đều cần tiền. Nhưng độc quyền toàn bộ cũng có nghĩa là vài năm nữa, chính người trong bản có thể phải bỏ tiền mua lại giống có nguồn gốc từ rừng của mình. Tôi đã nghe câu chuyện ấy ở không ít loại cây khác.
Chúng tôi đàm phán một mô hình khác. Doanh nghiệp được quyền khai thác thương mại trong một thời hạn nhất định ở thị trường ngoài vùng. Hợp tác xã giữ quyền nhân giống phi thương mại cho nông hộ địa phương. Nếu giống được bán ra, một phần phí phải quay về quỹ bảo tồn. Dữ liệu gốc không thuộc riêng doanh nghiệp. Và tên giống không được đặt theo tên một cá nhân nếu cộng đồng không đồng ý.
“Như vậy lợi nhuận của chúng tôi sẽ giảm,” người đại diện nói.
“Đúng vậy,” tôi đáp.
“Thế thì chúng tôi đầu tư làm gì?”
“Nếu thấy không đủ lợi nhuận thì đừng đầu tư.”
Dưới gầm bàn, Hoàng Sử đá nhẹ vào chân tôi. Tan họp, ông kéo tôi ra hiên mắng: “Cậu nói chuyện cứ như có mười công ty đang xếp hàng chờ.”
“Không,” tôi nói. “Tôi nói như một người không muốn bán thứ mình còn chưa hiểu.”
Cuối cùng doanh nghiệp vẫn ký, chỉ là với phạm vi nhỏ hơn. Có thể họ thật sự thấy tiềm năng, cũng có thể câu chuyện về “giống thích nghi do cộng đồng gìn giữ” có giá trị thương hiệu với họ. Tôi không ảo tưởng rằng động cơ của ai cũng phải trong sạch. Hợp đồng tốt tồn tại chính là để lợi ích không cần trong sạch vẫn không thể nghiền nát bên yếu hơn.
Năm thứ ba, bốn mươi bảy cây chỉ còn ba mươi chín. Tám cây chết hoặc suy kiệt quá nặng. Hôm đi gỡ thẻ, tôi và Sính leo khắp các sườn, cây nào chết thì tháo thẻ nhôm bỏ vào túi vải, ghi ngày, ghi vị trí, ghi cả những gì nhìn thấy quanh gốc: đất trơ sỏi, mất bóng che, hay bị trâu giẫm. Sính cầm chiếc thẻ số chín, cây mọc trên đất nhà anh, lật đi lật lại trong tay rồi lặng lẽ nhét vào túi áo chứ không bỏ vào túi chung. Cây số mười bảy vẫn sống tốt, nhưng bất ngờ thật sự lại đến từ cây số ba mươi mốt. Năm đầu nó bình thường, năm thứ hai cũng bình thường. Đến năm thứ ba, trong một đợt nóng kéo dài, khi nhiều cây giảm búp rõ rệt, cây ba mươi mốt vẫn giữ được nhịp. Trà của nó không thơm bùng lên, nhưng ổn định.
Hà Miên đứng trước gốc cây, ngón tay lật chiếc thẻ nhôm đã bạc màu. “Đôi khi tương lai không phải là cây ngon nhất, mà là cây ít tệ đi nhất khi điều kiện trở nên xấu.”
Câu ấy nghe buồn, nhưng thật.
Chúng tôi không vội thay rừng trà bằng cây ba mươi mốt. Làm thế sẽ là một sai lầm khác. Một quần thể đa dạng có nhiều cơ hội thích nghi hơn một vùng chỉ trồng duy nhất một lựa chọn “tối ưu”. Vì vậy chúng tôi giữ lại nhiều dòng: dòng thì vì hương, dòng vì sức sống, dòng vì ra búp muộn, và có những dòng được giữ chỉ vì chưa đủ dữ liệu để loại bỏ.
Cụ Mẩy nhìn hàng thẻ số lủng lẳng trên cành, chép miệng: “Ngày trước cây nào tốt thì giữ hạt. Giờ các cháu làm phức tạp quá.”
“Cụ thấy không cần thiết ạ?” tôi hỏi.
“Cần chứ.” Cụ cười, để lộ hàm răng đã rụng gần hết. “Chỉ đừng phức tạp đến mức quên cả uống trà.”
Chiều hôm đó, tôi và Hà Miên ngồi trên bậc đá trước nhà sao, pha một ấm từ cây ba mươi mốt. Không xuất sắc, nhưng dễ chịu, cái dễ chịu của thứ có thể uống mỗi ngày mà không chán.
Cô xoay chén trong tay. “Anh có thất vọng vì tương lai không giống trà của cha anh không?”
Tôi nhìn ra cánh rừng đang ngả bóng. “Có lúc. Nhưng cha tôi cũng đâu uống thứ trà giống hệt ông nội. Chúng ta chỉ thích kể rằng mọi thứ bất biến, vì câu đó dễ bán.”
Hà Miên nâng chén lên. “Vậy thì bán cái gì?”
“Bán trà của đúng năm nó được làm ra. Không bán lời hứa rằng thời gian đã dừng lại.”