Chương 6 / 8 ◆ ~7 phút đọc

Chương 6: Năm không có trà đầu mùa

Năm thứ tư, chúng tôi mất gần như toàn bộ trà đầu mùa. Không phải vì sâu bệnh, cũng chẳng phải do ai phá hoại. Một đợt rét muộn ập đến ngay sau ba ngày nắng nóng đã kích búp bật ra hàng loạt.

Đêm đầu tiên, nhiệt độ tụt xuống sát ngưỡng đóng sương. Sáng ra, những đầu búp non đã xám lại. Đêm thứ hai lạnh hơn. Đến ngày thứ ba, những búp đẹp nhất cong queo như vừa bị một ngọn lửa lạnh liếm qua.

Sáu giờ sáng, tôi đứng giữa đồi. Xung quanh là mấy chục người trong bản, không ai nói câu nào. Đây là kiểu thiệt hại không có ai để mà giận.

Hoàng Sử đá một hòn đá lăn xuống dốc. “Thế là xong.”

Sính đứng trước hai cây nghỉ của nhà mình. Chúng cũng không thoát. Anh quay sang tôi, giọng khàn: “Nghỉ ba năm rồi cũng thế.” Tôi nghe ra trong đó không phải lời trách móc, mà là tuyệt vọng.

Quỹ cây nghỉ đủ bù cho phần không hái theo kế hoạch, nhưng không đủ để bù cả một mùa thiên tai. Tour du lịch cũng vắng hẳn vì rừng trà chẳng còn búp đẹp mà ngắm. Đơn hàng lô A phải hủy toàn bộ. Đây là lần đầu tiên mô hình mới của chúng tôi bị thử thách thật sự, và nó lộ ra một lỗ thủng: chúng tôi đã thiết kế quỹ cho bảo tồn, nhưng chưa hề tính tới những biến động cực đoan.

Người mua gọi điện, giọng thông cảm: “Năm nay không có hàng thì năm sau mình gặp lại.” Nghe thì bình thường, nhưng người trồng trà đâu thể nhịn ăn một năm.

Hà Miên đề nghị lập quỹ rủi ro mùa vụ.

Hoàng Sử cười chua chát. “Lại quỹ. Tiền đâu?”

Tôi không muốn trả lời bằng hai chữ tài trợ. Một cộng đồng không thể sống mãi nhờ người ngoài thấy câu chuyện của mình đáng thương. Chúng tôi mở sổ doanh thu ba năm. Dòng trà cao cấp có biên lợi nhuận tốt nhất, du lịch tạo nguồn phụ, giống cây nghiên cứu bắt đầu mang về một khoản phí nhỏ. Tôi đề nghị từ năm sau trích cố định một tỷ lệ vào quỹ rủi ro.

Còn năm nay, khi chưa có quỹ, chúng tôi phải chọn cách khó hơn. Hợp tác xã tạm dừng kế hoạch xây nhà sao lớn, dồn tiền hỗ trợ những hộ thiếu thốn nhất. Hộ khá giả nhận ít hơn, không chia đều.

Cuộc họp nổ tung ngay lập tức.

“Cùng mất mùa, sao nhà tôi lại nhận ít hơn?”

“Vì nhà anh có thu nhập từ du lịch và có đàn bò.”

“Tôi làm thêm mới có những thứ đó. Giờ bị phạt vì chăm chỉ à?”

Lập luận ấy không phải vô lý. Chúng tôi phải tách bạch hai chuyện: bồi thường thiệt hại thì không thể trả đủ cho tất cả, còn hỗ trợ khẩn cấp thì phải ưu tiên khả năng sống qua mùa. Khoản tiền hiện có không được gọi là “bồi thường”, mà gọi đúng tên là cứu trợ sinh kế. Ai cần hơn thì nhận trước.

Để giảm cảm giác tùy tiện, tiêu chí được viết ra công khai: thu nhập ngoài trà, số người phụ thuộc, nợ ngắn hạn, thiệt hại thực tế, khả năng tiếp cận nguồn hỗ trợ khác. Không hoàn hảo, nhưng ít nhất người bị từ chối biết vì sao mình bị từ chối.

Nhà Sính thuộc nhóm được nhận mức cao. Anh nhìn tấm bảng dán trên vách hội trường, mặt không chút vui vẻ. “Tôi không thích bị ghi là nhà khó khăn.”

Tôi hiểu. Hỗ trợ có thể khiến người ta thấy mình bị xếp hạng nghèo trước mặt cả bản. Chúng tôi đổi cách công bố: không treo mức nhận của từng hộ, chỉ công khai tiêu chí, tổng số tiền và danh sách hội đồng xét duyệt. Mỗi hộ nhận quyết định riêng, có quyền khiếu nại. Những chi tiết như thế chẳng bao giờ xuất hiện trong các video về trà cổ thụ, nhưng một vùng nguyên liệu có sống nổi hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào chúng.

Rồi chúng tôi phải tìm cách kiếm tiền trong một năm gần như không có trà đầu mùa. Tôi đề nghị bán thứ chúng tôi đang có nhiều nhất: không phải lá trà, mà là hiểu biết về một mùa mất trắng.

Hà Miên tưởng tôi đùa.

“Tour năm nay không gọi là mùa trà nữa,” tôi giải thích. “Gọi là mùa rừng phục hồi.”

Khách được xem những búp trà bị rét táp, được nghe vì sao nóng sớm rồi rét muộn lại nguy hiểm đến thế, được cùng trồng cây che bóng, được nếm trà của những niên vụ cũ để tự cảm nhận sự khác biệt. Chúng tôi không bán bi kịch, chúng tôi bán sự hiểu biết. Tour nhỏ, không cứu được cả vùng, nhưng tạo ra việc làm cho một số hộ. Các hộ khác chuyển một phần sang nuôi ong lấy mật rừng, trồng dược liệu dưới tán, ươm giống cây che bóng, hay đi làm đường du lịch.

Tôi không muốn biến trà thành thứ yếu. Nhưng để chín mươi phần trăm thu nhập treo vào một đợt búp ngày càng bấp bênh thì rõ ràng là nguy hiểm.

Cuối năm đó, thu nhập của cả vùng giảm mạnh. Không có kết thúc có hậu giả tạo nào. Một số thanh niên xuống thành phố tìm việc, hai hộ bán bớt đất, một homestay đóng cửa. Quỹ cứu trợ chỉ giúp được một điều: không ai phải bán cây cổ ngay trong cơn hoảng loạn. Với tôi, như thế đã là một thắng lợi nhỏ.

Hà Miên ở lại đến cuối mùa. Một đêm, chúng tôi ngồi trong nhà sao trống trơn. Không có lá để sao, chiếc chảo của cha tôi nằm lạnh ngắt trên bếp, chỉ có ngọn đèn vàng treo trên xà nhà đung đưa theo gió lùa.

“Anh có bao giờ nghĩ nên bỏ trà không?” cô hỏi.

“Không,” tôi đáp, quá nhanh. Rồi tôi nghĩ lại. “Nhưng nếu một ngày cây trà không còn hợp với nơi này nữa, tôi không muốn con cháu phải sống nghèo chỉ để giữ một bức ảnh về chúng ta.”

Hà Miên nhìn tôi. “Anh vừa nói một điều mà ba năm trước anh sẽ ghét.”

“Ba năm trước, tôi tưởng bảo vệ truyền thống là giữ nguyên mọi thứ.”

“Còn bây giờ?”

“Bây giờ tôi nghĩ có khi là giữ được quyền thay đổi mà không mất hết.”

Năm không có trà đầu mùa dạy tôi nhiều hơn cả năm được giá nhất. Nó dạy tôi rằng khả năng thích nghi không chỉ nằm ở một cái cây chịu nóng tốt, mà còn ở chỗ một gia đình có nguồn thu khác, một hợp tác xã có quỹ dự phòng, một người mua chấp nhận niên vụ thay đổi, và một vùng trà có thể thẳng thắn nói “năm nay không có” mà không cần trộn lá, nói quá hay vắt kiệt cây để giữ thể diện.

Đã đọc xong

Chương 6 / 8

Câu chuyện vẫn còn phía trước.

Đọc chương tiếp
Home Trước Sau
Đọc tiếp chỗ đang dở? Bạn đã đọc một phần chương này.
Cài đặt Đọc truyện
Cỡ chữ
Giãn dòng
Độ rộng trang đọc
Kiểu Chữ
Phông Nền
💬 Bình luận đoạn
Đang tải bình luận...