Chương 2: Cuốn sổ của người không biết khí hậu học
Hà Miên đọc cuốn sổ của cha tôi từ bảy giờ sáng đến gần trưa.
Cô không đọc như người đọc nhật ký.
Cô chia trang.
Đánh dấu ngày.
Chuyển những câu rất quê mùa thành dữ liệu.
“Rét ngọt kéo dài, lá tím mép.”
Thành: số ngày nhiệt thấp đầu mùa.
“Mưa tới muộn, búp nứt chậm.”
Thành: ngày bắt đầu mưa hiệu quả.
“Suối cạn trước tiết Thanh minh.”
Thành: chỉ báo ẩm đất.
“Mẻ đầu thơm như mật, cha uống ba chén.”
Cô ngẩng lên.
“Câu này khó mã hóa.”
Tôi bật cười.
“Cha tôi không biết sẽ có người cần dữ liệu.”
“Ông ấy biết quan sát.”
“Khác nhau à?”
“Nhiều nhà khoa học bắt đầu bằng một người ghi thứ mình thấy trước khi biết tên chính xác của nó.”
Tôi nhìn cuốn sổ.
Cha tôi học hết lớp bảy.
Ông không biết hồi quy.
Không biết chuỗi thời gian.
Không biết xu hướng khí hậu.
Nhưng ông biết năm nào côn trùng xuất hiện sớm.
Biết cây nào bật búp sau sương.
Biết mùi lá thay đổi trước khi mưa.
Những thứ đó không tự biến thành khoa học chỉ vì được viết xuống.
Nhưng cũng không nên bị coi là mê tín chỉ vì người viết không có bằng cấp.
Hà Miên lấy dữ liệu trạm gần nhất từ năm 1994.
Cô chồng lên các mốc trong sổ cha tôi.
Một số năm thiếu.
Một số ngày lệch.
Nhưng xu hướng hiện ra khá rõ.
Những mùa được cha đánh dấu “hương tốt” thường có:
Một giai đoạn lạnh kéo đủ dài trước khi bật búp.
Chênh nhiệt ngày đêm cao.
Mưa đầu xuân không quá sớm.
Đất giữ ẩm đều nhưng không úng.
Mười năm gần đây, số ngày lạnh giảm.
Đêm ấm hơn.
Hai đợt nóng sớm xuất hiện ngay thời điểm búp đang tích lũy chất thơm.
Tôi hỏi:
“Vậy xong rồi? Khí hậu làm trà nhạt?”
Hà Miên lắc đầu.
“Không nhanh vậy.”
“Còn nhiều yếu tố: tuổi cây, cường độ hái, đất, bóng che, sâu bệnh, cách sao, thời gian hái.”
“Nếu chúng ta thích một kết luận quá sớm, chúng ta sẽ chỉ thay huyền thoại cũ bằng huyền thoại khoa học.”
Tôi thích câu đó.
Chúng tôi xuống bản khảo sát hai mươi cây.
Không lấy cây đẹp nhất.
Hà Miên chọn ngẫu nhiên theo ba nhóm tuổi tương đối.
Cây cổ già nhất.
Cây trung niên.
Cây con mọc tự nhiên dưới tán.
Với mỗi cây, chúng tôi ghi:
Độ che tán.
Độ ẩm đất.
Số đợt hái năm trước.
Dấu sâu.
Độ dài đọt.
Hướng sườn.
Người hái.
Giờ hái.
Tôi cảm thấy hơi buồn cười.
Suốt đời làm trà, chưa bao giờ tôi đo chính xác bao nhiêu phần trăm bóng che của một cây.
Cha tôi chỉ nói:
“Cây này nắng gắt, để cành dẻ phía trên.”
Giờ chúng tôi đo.
Không phải để chứng minh cha sai.
Để biết lời ông áp dụng được đến đâu khi khí hậu đã đổi.
Ở cây thứ tám, chúng tôi gặp nhà anh Vừ Sính.
Nhà anh có đúng bảy cây cổ như người đã cãi tôi trong cuộc họp.
Sính nhìn dụng cụ.
“Đo xong có làm trà thơm lại không?”
“Chưa biết.”
“Vậy đo để làm gì?”
“Để biết mình nên thử cái gì.”
“Tôi không có tiền thử.”
Tôi biết.
Anh có hai con học nội trú.
Mẹ bị bệnh phổi.
Năm trước giá phân tăng.
Hợp tác xã nợ tiền sửa đường.
Sính nói:
“Anh bảo nghỉ hái cây già. Nếu nghỉ hai cây, nhà tôi mất gần một phần ba tiền đầu mùa.”
“Nếu cây kiệt rồi chết?”
“Thì vài năm nữa chết.”
“Còn tháng này, con tôi đóng tiền.”
Đó là bản chất của rất nhiều bài toán môi trường.
Lợi ích của bảo tồn nằm ở tương lai.
Chi phí trả ngay hôm nay.
Người có tiền dễ chọn tương lai hơn.
Tôi hỏi:
“Nếu có người trả anh bằng giá trung bình ba năm cho phần không hái, anh cho hai cây nghỉ không?”
Sính nhìn tôi.
“Ai trả?”
“Chưa biết.”
“Vậy đừng hỏi.”
Anh bỏ đi.
Hà Miên không trách anh.
Cô nói:
“Anh cần thiết kế thí nghiệm như thiết kế chính sách.”
“Nghĩa là?”
“Nếu muốn người nghèo tham gia thử nghiệm dài hạn, phải tính chi phí cơ hội của họ. Không thể bảo họ hy sinh cho dữ liệu.”
Tôi nhìn cô.
“Cô nói chuyện giống người làm kinh tế.”
“Khí hậu học mà không hiểu tiền thường chỉ tạo slide đẹp.”
Chiều đó chúng tôi họp với xã.
Tôi đề nghị lập “lô cây nghỉ” gồm hai mươi cây trong ba năm.
Mỗi cây được giảm cường độ hái theo mức khác nhau.
Chủ cây nhận khoản bù tương đương sản lượng không thu hoạch, dựa trên mức trung bình ba năm chứ không dựa vào giá thấp nhất.
Đổi lại, họ phải:
Không hái lén.
Cho phép đo cây định kỳ.
Ghi ngày chăm sóc.
Không dùng hóa chất ngoài thỏa thuận.
Và quan trọng nhất: nếu kết quả cho thấy nghỉ cây không cải thiện, chúng tôi cũng công bố.
Chủ tịch xã hỏi:
“Nguồn tiền?”
Tôi đưa ba phương án.
Một phần quỹ du lịch.
Một phần từ tiền bán lô trà nghiên cứu với giá cao hơn, người mua biết rõ đây là lô thử nghiệm.
Và một phần xin tài trợ bảo tồn nông nghiệp từ một chương trình đại học.
Hà Miên nói:
“Tôi có thể giúp hồ sơ nghiên cứu, nhưng không bảo đảm tài trợ.”
Hoàng Sử cười:
“Vậy cuối cùng vẫn xin tiền người ngoài để dạy chúng tôi trồng trà.”
Tôi đáp:
“Không. Xin tiền để chúng ta có quyền thử mà không bắt nhà nghèo chịu hết rủi ro.”
“Nếu sau ba năm chẳng được gì?”
“Thì ít nhất biết một việc không hiệu quả.”
“Ai mua cái biết đó?”
“Chúng ta.”
“Để khỏi mất thêm ba mươi năm làm sai.”
Cuộc họp không kết thúc bằng đồng thuận.
Chín hộ đồng ý.
Bốn hộ từ chối.
Những hộ còn lại chờ xem tiền thật có tới không.
Tôi không ép.
Nghiên cứu dựa trên người không có quyền từ chối thì không phải hợp tác.
Hai tuần sau, chương trình đại học phản hồi.
Họ đồng ý hỗ trợ một năm đầu.
Không nhiều.
Nhưng đủ trả cho hai mươi cây.
Nhà Sính là hộ cuối cùng ký.
Anh cầm hợp đồng đọc rất lâu.
“Nếu tiền về trễ?”
“Hợp tác xã ứng trước.”
“Nếu anh chết?”
Tôi khựng.
“Gì?”
“Anh là người đứng ra. Nếu anh chết, ai trả?”
Hà Miên nhìn tôi.
Câu hỏi rất hay.
Chúng tôi sửa hợp đồng.
Người trả không phải Nguyễn Hoàng Tuấn.
Là quỹ riêng có tài khoản và ba người cùng quản.
Không để cả dự án phụ thuộc một người.
Cha tôi từng ghi sổ một mình.
Nhờ vậy hôm nay chúng tôi có dữ liệu.
Nhưng nếu cuốn sổ cháy, mọi thứ mất.
Tôi bắt đầu sao chụp và số hóa toàn bộ.
Mỗi bản vẫn giữ ảnh trang gốc, không chỉ nhập con số.
Vì một câu như “trà thơm, cha uống ba chén” có thể vô dụng với mô hình hôm nay.
Nhưng ai biết mười năm nữa người khác sẽ đọc được gì từ nó.
Đến cuối mùa, hai mươi cây nghỉ hái trông không khác bao nhiêu.
Không phép màu.
Không búp đột nhiên thơm trở lại.
Nhưng rễ non ở vài cây tăng.
Độ ẩm dưới tán cây có che bóng tốt ổn định hơn.
Cây ở sườn nắng gắt phản ứng kém.
Hà Miên nói:
“Có thể vấn đề không phải chỉ hái nhiều.”
“Có thể vi khí hậu quanh cây quan trọng hơn chúng ta nghĩ.”
Tôi nhìn những cây dẻ từng bị chặt bớt để khách du lịch có góc chụp cây trà đẹp hơn.
Trong ảnh, cây trà đứng một mình rất hùng vĩ.
Trong tự nhiên, nó chưa từng sống một mình.
Tôi chợt thấy một sai lầm khác.
Chúng tôi đã bán hình ảnh cây cổ thụ đến mức bắt đầu sửa cả khu rừng cho giống hình ảnh ấy.