Chương 12: Buổi Thẩm Định Khi Cả Hiệp Hội Đứng Dậy
Bảy giờ sáng, phố Hàng Bạc đã chật người. Xe tải nhỏ chở thùng số bảy đỗ trước căn nhà thùng phố cổ, có hai cán bộ quản lý thị trường và một người của đơn vị kiểm định đi kèm, camera gắn trên thùng xe vẫn còn sáng đèn đỏ. Khách du lịch dừng lại chụp ảnh, mấy bà bán hàng bạc đối diện bỏ cả quầy ra đứng xem. Mùi chượp từ chiếc thùng quấn chăn bông lan ra tận đầu phố, mặn và ấm như mùi biển Phú Quốc lúc chiều.
Bên trong, hàng ghế phóng viên chật kín từ sớm. Gần năm mươi hội viên hiệp hội nước mắm truyền thống từ Phan Thiết, Cát Hải, Nha Trang, Phú Quốc ngồi kín ba dãy ghế gỗ, nhiều người tóc đã bạc trắng. Chính gian phòng này, mấy tháng trước, đã vang tiếng cười khi Bùi Khánh Toàn cúi nhặt chiếc USB vỡ. Hôm nay nó im lặng như nhà thờ.
Trịnh Quang Vinh vẫn ngồi ở ghế chủ tọa, với tư cách phó chủ tịch phụ trách chuyên môn. Hắn mặc vest đen, đeo kính râm đến tận lúc bước vào, phần cổ lộ ra đỏ lựng. Khi phóng viên gọi tên, vai hắn giật một cái rất khẽ, đủ để một ống kính bắt được khoảnh khắc kiêu ngạo trượt khỏi mặt. Ghế bên cạnh hắn, nơi Nguyễn Thùy Dung vẫn ngồi trong mọi sự kiện, để trống.
Điện thoại Bùi Khánh Toàn rung lúc tám giờ kém mười. Lại là Thùy Dung, lần này chỉ một dòng: “Cẩn thận phần mẫu, em không nói được hơn.” Anh nhìn dòng chữ vài giây, chụp màn hình gửi luật sư, rồi đưa điện thoại cho Phạm An Khuê đọc. Cô không bình luận, chỉ mở bìa hồ sơ xanh lá, kiểm lại danh sách số tem niêm phong một lần nữa.
Trịnh Quang Vinh mở đầu bằng giọng chủ tọa. Hắn đề nghị buổi thẩm định tập trung vào “làm rõ tính xác thực của hồ sơ” trước, rồi đặt lên bàn bản sổ giả, tờ bìa giấy ngả vàng, nét mực tím. “Một nhà thùng không thể có hai cuốn sổ gốc,” hắn nói. “Hiệp hội cần biết cuốn nào là thật trước khi nếm bất kỳ giọt mắm nào.”
Phạm An Khuê không nhìn Bùi Khánh Toàn để xin ý kiến. Cô đứng dậy, đề nghị chủ tọa đọc to quyết định của ban thường trực ngày hôm qua về trình tự buổi thẩm định. Theo quyết định ấy, phần nếm mù và kiểm tra thùng đi trước, phần hồ sơ đi sau. Thư ký hiệp hội đọc. Trịnh Quang Vinh siết chặt cây bút, không nói thêm được gì.
Phần nếm mù bắt đầu. Năm mẫu mắm được rót vào năm chén sứ trắng, đánh mã từ A đến E. Theo biên bản tiếp nhận mẫu, A và C là hai chai niêm phong của thùng số bảy và thùng số năm, lấy từ két ngân hàng Phú Quốc. B là mắm nhãn vàng của công ty Trịnh Quang Vinh. D và E là hai nhãn thương mại phổ biến trên thị trường. Ban kỹ thuật và hai mươi hội viên được bốc thăm lần lượt đi qua từng chén, ngửi, nếm, chấm điểm vào phiếu kín.
Kết quả đọc lên làm cả phòng xôn xao. Mẫu A được chấm gần như tuyệt đối. Nhưng mẫu C, được ghi là thùng số năm của Bùi Gia, lại bị chấm thấp, nhiều phiếu ghi “mùi gắt, hậu vị chát, nghi chượp non”. Còn mẫu B của công ty Vinh lại được chấm cao bất ngờ, nhiều phiếu ghi “ngọt sâu, đứng giọt”.
Trịnh Quang Vinh đứng bật dậy, lần đầu tiên trong nhiều tuần, giọng hắn có lại chút khí thế. “Các vị thấy rồi đấy. Một nửa mẫu niêm phong của Bùi Gia không đạt. Còn mắm của chúng tôi, mắm mà người ta vu cho là pha, lại được chính các vị chấm cao.” Một vài hội viên nhìn nhau, có người khẽ gật đầu.
Bùi Khánh Toàn ngồi yên. Anh không cần nếm cũng biết mắm thùng số năm không thể có hậu vị chát, vì chính tay anh đã cùng ông Lộc rót nó dưới mắt công chứng viên. Anh giơ tay xin phát biểu, giọng bình thường như hỏi giờ. “Tôi đề nghị đối chiếu số tem niêm phong trên hai chai gốc với mã chén trong biên bản tiếp nhận. Chỉ mất hai phút.”
Ông Tạ gật đầu. Thư ký mang hai chai gốc lên bàn. Phạm An Khuê mở bìa hồ sơ màu xanh lá, đọc to từng số tem đã ghi trong biên bản niêm phong ở Phú Quốc. Ông Tạ cúi xuống đọc số tem trên chai. Chai có tem thùng số năm, theo biên bản tiếp nhận hôm nay, được rót vào chén B. Còn chén C, theo nhật ký rót mẫu, được rót từ chai nhãn vàng của công ty Vinh. Mã của hai chén đã bị đổi chéo cho nhau trên phiếu chấm.
Gian phòng im phăng phắc. Ông Tạ ngẩng lên, nhìn thẳng vào ghế chủ tọa. “Mẫu được chấm cao là mắm Bùi Gia,” ông nói, từng chữ một. “Mẫu bị chấm thấp là mắm nhãn vàng. Ai đó đã đổi mã hai chén. Hiệp hội sẽ làm rõ người đó là ai.” Trịnh Quang Vinh mở miệng, rồi khép lại. Hắn nói nhỏ rằng chắc nhân viên tiếp nhận sơ suất. Không ai đáp lời hắn.
Rồi đến phần mà cả phố Hàng Bạc đang chờ. Bốn thanh niên khiêng thùng số bảy vào giữa gian phòng, đặt lên bệ gỗ. Ông Lộc, đã bay ra từ chuyến sớm nhất, bước lên, tay cầm con dao nhỏ. Ông xin phép ông Tạ, rồi cắt sợi đai mây thứ hai. Lớp đai rơi xuống, để lộ trên mặt gỗ sẫm màu một dòng chữ khắc bằng sắt nung, nét đã mòn nhưng vẫn đọc được: “Bùi Văn Thức, đóng năm 1978.”
Phạm An Khuê lật cuốn sổ ủ chượp thật đến trang đầu tiên của thùng số bảy, đặt dưới máy chiếu. Nét mực tím ghi: “Thùng số bảy, gỗ bời lời rừng Hàm Ninh, đóng xong tháng chín năm bảy mươi tám.” Bên cạnh, cô chiếu trang tương ứng của bản sổ giả: “Thùng số bảy, đóng năm tám mươi lăm tại xưởng Vinh Hưng.” Không cần ai giải thích thêm. Một chiếc thùng không thể được đóng ở một xưởng chưa tồn tại, rồi tự khắc tên một người đã mất từ trước đó.
Ông Lộc mở vòi gỗ dưới đáy thùng. Dòng mắm nhĩ chảy ra chậm như mật, đỏ cánh gián, trong vắt. Ông rót vào từng chén sứ nhỏ, chuyền tay cho các hội viên. Không ai chấm điểm nữa. Một ông cụ ở Phan Thiết nếm xong, nhắm mắt rất lâu, rồi khẽ nói: “Đúng vị mắm nhà ông Thức. Năm tôi còn đi bạn ghe, tôi được ăn một lần.” Một bà cụ ở Cát Hải nhỏ mắm lên móng tay cái, giơ lên cho mọi người cùng thấy giọt mắm đứng tròn không chảy.
Người đầu tiên đứng dậy là ông Tạ. Ông không nói gì, chỉ chậm rãi vỗ tay, hai bàn tay gầy guộc đập vào nhau từng tiếng rõ ràng. Rồi ông cụ Phan Thiết đứng dậy. Rồi cả dãy ghế Phú Quốc. Rồi lần lượt từng hàng, từng người, cho đến khi cả gian phòng, gần năm mươi hội viên, đứng dậy vỗ tay. Tiếng vỗ tay dội vào những bức tường trăm tuổi, tràn ra tận ngoài phố, nơi khách du lịch không hiểu chuyện gì cũng vỗ tay theo.
Bùi Khánh Toàn đứng cạnh thùng số bảy, không cúi chào, không giơ tay. Anh chỉ nhìn ông Lộc, ông già đang lấy vạt áo bà ba lau vội khóe mắt. Rồi anh nhìn Phạm An Khuê. Cô vẫn ngồi, tay cầm bút, nhưng lần đầu tiên, cô quên ghi chép.
Trịnh Quang Vinh là người duy nhất trong gian phòng còn ngồi. Hắn cố đứng lên, có lẽ để rời đi, có lẽ để vỗ tay cho đỡ lạc lõng. Nhưng đầu gối hắn không nghe lời. Hắn chống tay lên bàn chủ tọa mới đứng được, mồ hôi chảy thành dòng dưới gọng kính. Ông Tạ đề nghị ban thường trực tạm đình chỉ chức vụ của hắn trong hiệp hội cho đến khi có kết luận về việc đổi mã mẫu. Không một cánh tay nào phản đối.
Mẫu chính thức từ thùng số bảy và phần còn lại của hai chai niêm phong được đóng gói lại, gửi đơn vị kiểm định độc lập để công bố kết quả bằng văn bản. Siêu thị, chuỗi đặc sản Việt và cơ quan điều tra sẽ chờ văn bản ấy. Nhưng với những người làm nghề có mặt hôm nay, kết luận đã có từ khoảnh khắc họ đứng dậy.
Chiều muộn, khi phố Hàng Bạc đã vãn người, Bùi Khánh Toàn và Phạm An Khuê ngồi lại trong văn phòng hiệp hội, rà bộ biên bản tiếp nhận mẫu của buổi sáng. Tập tài liệu dày đến mức kẹp bướm không giữ nổi. Cô chia nó thành từng cụm màu: đỏ cho mẫu, xanh cho người ký, vàng cho thời gian. Nhìn chồng giấy ấy, anh biết đây đã không còn là cuộc cãi vã của riêng mình.
Trước khi tắt đèn, Phạm An Khuê dừng tay. Ở cột liên lạc của người tiếp nhận mẫu, một số điện thoại lặp lại trong ba biên bản khác nhau, cả ba đều là biên bản của hai chén bị đổi mã. Số ấy không thuộc về nhân viên nào trong danh sách hiệp hội. Bùi Khánh Toàn chép nó ra một tờ giấy trắng, khoanh tròn bằng bút đỏ. Một cánh cửa mới vừa hé ra.