Chương 6: Hội Đồng Kỷ Luật Không Phải Sân Khấu Trả Thù
Một bài viết trên internet không tự làm thay đổi học hàm hay chức vụ của PGS Trần Quốc Mạnh. Quá trình xử lý kéo dài nhiều tháng và đi qua nhiều tầng khác nhau. Hội đồng liêm chính học thuật hoàn tất việc rà soát khuôn mẫu đứng tên tác giả trong nhóm của ông. Hội đồng quản trị khoa xem xét khiếu nại về trả đũa và phân công giảng dạy. Phòng Tổ chức và Ban giám hiệu xem xét vai trò trưởng khoa. Các tạp chí xử lý việc đính chính hay thay đổi tác giả theo từng bài nếu cần. Không một hội đồng nào có quyền giải quyết tất cả.
Kết luận về Mạnh cũng không phải là câu “ông không đóng góp gì vào mười bốn trên hai mươi ba bài” từng lan trên diễn đàn sinh viên. Hội đồng chia các trường hợp ra rõ ràng. Có những bài ông đóng góp đủ để làm đồng tác giả, nhưng thứ tự tên và hồ sơ ghi nhận thiếu minh bạch. Có những bài có bằng chứng đáng kể về việc ép đứng tên hoặc đứng tên danh dự. Có những trường hợp không đủ hồ sơ để kết luận, và có những bài cần tạp chí đính chính phần mô tả đóng góp.
Điều hội đồng xác định được là một vấn đề quản trị nghiêm trọng: không có thỏa thuận tác giả từ sớm, áp lực từ người hướng dẫn quá lớn, việc duyệt tiến độ và việc ghi công trong bài báo bị trộn lẫn, một số nhà nghiên cứu trẻ ngại phản đối vì sợ ảnh hưởng tới con đường học thuật. Chừng ấy đã đủ để xử lý. Không cần phóng đại thành “mọi bài của Mạnh đều gian lận”.
Mạnh được mời phản hồi các kết luận. Ông nộp một tập tài liệu dày, lập luận rằng nhiều cách làm phản ánh thông lệ cũ của ngành, rằng ông có đóng góp về hướng dẫn và ý tưởng ở nhiều bài, và rằng không phải nghiên cứu sinh nào khiếu nại cũng hiểu đủ phần việc của người hướng dẫn. Một số điểm ông nói đúng, và hội đồng điều chỉnh câu chữ ở vài trường hợp. Nhưng họ giữ nguyên kết luận rằng Mạnh đã không quản lý xung đột lợi ích và tư cách tác giả một cách minh bạch, và trong một số trường hợp đã dùng vị trí của mình để gây áp lực không phù hợp.
Cuộc rà soát về giảng dạy có kết luận riêng. Nó không nói Mạnh dạy dở. Biên bản ghi rằng nội dung môn học cần cập nhật, mức độ không hài lòng của sinh viên là đáng kể, dự giờ chéo cho thấy Mạnh rất vững về lý thuyết và vấn đề định dạng mô hình nhưng cách truyền đạt và học liệu đánh giá cần thiết kế lại. Các quyết định phân công sau đơn kiến nghị thiếu tiêu chí bằng văn bản và tạo ra dáng dấp của sự trả đũa.
Châu cũng có tên trong biên bản. Khóa học của cô hấp dẫn, nhưng tốc độ và lượng lập trình không phù hợp với mọi người học, cần một khung nền khái niệm vững hơn. Không ai hoàn hảo, và biên bản không giả vờ rằng có ai hoàn hảo.
Kết quả cuối cùng từ phía nhà trường: Mạnh rời vị trí trưởng khoa sau quyết định của bộ máy quản trị nội bộ. Trong một thời gian, ông không được một mình hướng dẫn nghiên cứu sinh mới và phải hoàn thành khóa đào tạo về liêm chính nghiên cứu và kỹ năng hướng dẫn. Một số bài báo được tạp chí đính chính hoặc cập nhật tác giả theo đúng quy trình. Ông vẫn là giảng viên của trường. Học hàm phó giáo sư của ông không tự biến mất, vì hội đồng cấp trường không có thẩm quyền đó. Nếu cơ quan xét danh hiệu muốn xem xét riêng, việc ấy cần tiêu chí và quy trình riêng, chứ không thể là một quyết định bịa ra cho câu chuyện kết thúc đẹp.
Mạnh chuyển sang một vai trò không quản lý. Ông tiếp tục dạy ít môn hơn, có đồng nghiệp hỗ trợ dự giờ và góp ý. Một số sinh viên vẫn thích học ông vì phần lý thuyết sâu, một số khác thì không. Đó là chuyện bình thường.
Nguyễn Hải Đăng cũng không tốt nghiệp với một bài báo chỉ có tên mình. Bài cuối cùng có danh sách tác giả theo kết quả rà soát đóng góp: Đăng đứng tên đầu, Mạnh là đồng tác giả vì đáp ứng tiêu chí và đồng ý chịu trách nhiệm, thêm một cộng sự khác có tên. Phần mô tả đóng góp được công bố rõ ràng hơn.
“Em từng nghĩ công bằng là thầy không được đứng tên,” Đăng nói với Châu.
“Còn giờ?”
“Công bằng là tên ai có mặt thì có lý do.”
Châu bật cười. Đó là câu tổng kết hay nhất cô nghe được trong cả vụ việc.
MinhChâu Academy không đăng video ăn mừng chuyện Mạnh mất ghế. Nhóm vận hành đề xuất một ảnh bìa với dòng chữ “Trưởng khoa cũ cuối cùng cũng bị xử!”, và Châu từ chối ngay.
“Đây không phải nội dung của mình.”
“Nhưng khán giả đang hỏi chị.”
“Thì mình làm video về thỏa thuận tác giả, chứ không khai thác kết quả xử lý nhân sự của ai cả.”
Cô quay một video tên “Năm điều nghiên cứu sinh nên thống nhất về tư cách tác giả ngay từ đầu”: kỳ vọng về đóng góp, thứ tự tác giả, ai viết nháp và ai rà soát, trách nhiệm với dữ liệu và phần mềm, kênh giải quyết tranh chấp. Cuối video, cô nói: “Đừng đợi tới lúc nộp bài mới hỏi tên ai đứng trước.” Video có lượt xem tốt, không lan truyền hàng triệu lượt, nhưng đủ để một số phòng nghiên cứu gửi cho sinh viên mới xem.
Nhà trường cũng sửa quy định. Các nhóm nghiên cứu được khuyến khích, rồi dần được yêu cầu, bàn về tư cách tác giả và đóng góp từ sớm. Người hướng dẫn không còn là thẩm quyền duy nhất khi có khiếu nại về tiến độ. Tiêu chí phân công giảng dạy minh bạch hơn. Ý kiến sinh viên được xem cùng nhiều thước đo khác.
Một hôm, Châu nhận email từ một giảng viên trẻ ở khoa cũ: “Em vừa được hỏi nguyện vọng giảng dạy trước khi phân công. Không phải lúc nào cũng được chọn, nhưng ít nhất đã có tiêu chí.” Cô lưu email đó vào một thư mục riêng. Với cô, sự sửa chữa ấy đáng giá hơn cảnh Mạnh phải tháo bằng khen khỏi tường.
Một năm sau, Châu gặp Mạnh ở một hội thảo. Ông không tránh mặt cô.
“Học viện ổn chứ?”
“Ổn ạ.”
“Tôi có xem chương IV.”
“Thầy thấy sao?”
“Phần biến công cụ yếu đỡ hơn trước.”
Châu bật cười. “Cảm ơn thầy.”
“Em vẫn nói nhanh.”
“Em biết.”
Không có lời xin lỗi lớn lao, cũng không có màn tha thứ mang tính nghi lễ. Hai người đều đã mất một thứ gì đó. Mạnh mất quyền quản lý và một phần uy tín. Châu mất con đường học thuật truyền thống mà cô từng mong muốn. Nhưng khoa không “mất sinh viên” vì một người. Nó phải sửa cách quản trị và cách giảng dạy vì nhiều tín hiệu cùng chỉ về một vấn đề.
Đợt rà soát quản trị còn thay đổi cách trường xử lý đơn kiến nghị của sinh viên. Một danh sách chữ ký không còn được chuyển thẳng thành quyết định nhân sự. Mỗi kiến nghị được phân loại: chất lượng giảng dạy, tác phong, chương trình học hay thủ tục hành chính, mỗi loại có kênh và yêu cầu bằng chứng riêng. Sinh viên được phản hồi rằng kiến nghị đã được tiếp nhận, nhưng không ai hứa trước kết quả về một giảng viên khi chưa rà soát.
Châu thích thay đổi này. Nó bảo vệ sinh viên khỏi bị phớt lờ, đồng thời bảo vệ giảng viên khỏi việc một chiến dịch được lòng số đông tự động biến thành kỷ luật. Mạnh không thích hết các quy định mới, nhưng trong một buổi sinh hoạt chuyên môn sau đó, ông thừa nhận: “Ít nhất bây giờ ai đổi phân công giảng dạy cũng phải ghi lý do.”
Châu nghĩ chừng ấy đã là tiến bộ. Nó không thỏa mãn như một màn trả thù, nhưng bền hơn cho cả hệ thống. Đó là một kết quả ít kịch tính hơn, và có ích hơn cho những người học đến sau họ.