Chương 7 / 8 ◆ ~9 phút đọc

Chương 7: Hai Mươi Nghìn Người Học Khác Hai Triệu Sinh Viên

Hai năm sau khi rời trường, MinhChâu Academy vẫn nhỏ hơn rất nhiều so với câu chuyện người ta thích kể về nó. Học viện có khoảng hai mươi nghìn tài khoản từng đăng ký các lớp miễn phí hoặc trả phí ở nhiều mức khác nhau. Số người học thật sự mỗi tháng nhỏ hơn nhiều, và số người hoàn thành khóa học lại còn nhỏ hơn nữa.

Lý Minh Châu thích bảng theo dõi số liệu mới vì nó buộc cô bỏ những con số chỉ để khoe. Người đăng ký kênh YouTube có thể đông hơn người học thật. Lượt xem không bằng việc học. Đăng ký không bằng hoàn thành. Hoàn thành chưa chắc đã thành thạo. Và giấy chứng nhận thì không bằng tín chỉ đại học.

Nhóm của học viện giờ có mười hai người làm ổn định, cả cố định lẫn bán thời gian. Đó không phải một công ty công nghệ giáo dục khổng lồ. Các khóa chính gồm Nền tảng Thống kê, Kinh tế lượng với Python, Suy luận nhân quả cho người làm thực tế, Kể chuyện bằng dữ liệu và một khóa về nghiên cứu có thể tái lập. Học viện không mở mọi môn kinh tế học chỉ vì thương hiệu đang lên.

Châu từng thử mở khóa Học máy cho nhà kinh tế. Phản hồi từ lớp thử nghiệm cho thấy nội dung trùng quá nhiều với những khóa miễn phí rất tốt đã có sẵn, và nhóm chưa có giảng viên đủ mạnh cho mảng này. Họ dừng lại. Không ra mắt chỉ vì từ khóa đang nóng.

Học viện sống nhờ ba nguồn thu: các lớp trả phí, các hợp đồng đào tạo nhỏ cho tổ chức, và tài trợ cho nội dung mở hoặc học bổng. Quảng cáo trên YouTube không phải trụ cột. Châu từng nghĩ quảng cáo sẽ nuôi được giáo dục miễn phí, nhưng doanh thu từ đó lên xuống thất thường. Chỉ các khóa trả phí và gói hỗ trợ định kỳ mới trả nổi lương trợ giảng và người dựng video.

Một công ty công nghệ tài chính muốn tài trợ một khóa miễn phí, đổi lại được chèn lời mời ứng tuyển vào mọi bài học. Châu đồng ý nhưng đặt giới hạn: logo và lời cảm ơn được ghi rõ, nhà tài trợ không can thiệp vào bài đánh giá, không tự động lấy dữ liệu học viên, và không biến khóa học thành phễu tuyển dụng bắt buộc. Họ không thích lắm, nhưng vẫn chấp nhận.

Học viện cũng bắt đầu hợp tác với một trường cao đẳng nhỏ. Đó không phải liên kết cấp bằng. Trường mua quyền sử dụng một số học liệu và nhờ học viện đào tạo giảng viên dùng các bài thực hành. Hợp đồng ghi rõ quyền sở hữu nội dung, trách nhiệm cập nhật, yêu cầu về khả năng tiếp cận, dữ liệu, hỗ trợ sinh viên và ai là đơn vị cấp chứng nhận. Không có chuyện trường dùng logo MinhChâu Academy rồi gọi chứng nhận là “được đại học công nhận” khi không có cơ sở nào. Một năm trước, Châu còn coi các tổ chức là thứ cô muốn thoát khỏi. Giờ cô thấy một mối hợp tác tốt có thể nhân rộng chất lượng, miễn là quyền lợi và quy trình được ghi rõ.

Cô được mời nói chuyện ở một sự kiện TEDx địa phương. Châu cân nhắc rồi nhận lời, nhưng không chọn tựa đề “Tôi bị đuổi vì giỏi hơn trưởng khoa”. Cô đặt tên bài nói là “Dạy học trực tuyến đã dạy tôi điều gì về phản hồi”, xoay quanh ba ý: được yêu thích không bằng học được, mở cửa không bằng hoàn thành, và tự do xuất bản không bằng bảo đảm chất lượng.

Video bài nói đạt vài chục nghìn lượt xem sau một thời gian. Không phải sáu triệu, và Bộ Giáo dục cũng không mời cô vào hội đồng quốc gia ngay hôm sau. Nhưng một số nhóm phát triển năng lực giảng viên mời cô tổ chức buổi chuyên đề, một trường đại học hỏi về chương trình thí điểm học kết hợp, một tổ chức phi lợi nhuận hỏi về lớp học bổng. Với Châu, như vậy là đủ.

Học viện còn vấp một bài học khó về kết quả của người học. Bộ phận truyền thông muốn viết: “85% học viên tăng thu nhập sau khóa học.” Nhưng khảo sát chỉ có phản hồi từ một nhóm tự nguyện trả lời, trong đó nhiều người vốn đã có việc tốt từ trước.

Châu từ chối. “Mình có thể nói bao nhiêu người cho biết họ đổi vị trí công việc trong khảo sát, kèm theo giới hạn về mẫu và phương pháp.”

“Tiêu đề như vậy yếu lắm chị.”

“Yếu còn hơn một khẳng định nhân quả mà mình không chứng minh được.”

Học viện công bố một báo cáo học tập thường niên nhỏ: số đăng ký, tỷ lệ hoàn thành, phân bố điểm, học bổng, hoàn tiền, các cải tiến về khả năng tiếp cận, thời gian phản hồi hỗ trợ, các sự cố và đính chính. Họ không gọi nó là báo cáo tác động khi chưa có thiết kế đánh giá tác động đủ chặt.

Có lần Châu muốn thử nghiệm hai phiên bản email nhắc học để tăng tỷ lệ hoàn thành. Trưởng bộ phận vận hành hỏi: “Có cần xin sự đồng ý của học viên không chị?” Cả nhóm xem xét bối cảnh quyền riêng tư, nghiên cứu và vận hành, không tự coi mọi thử nghiệm sản phẩm là nghiên cứu học thuật. Họ giới hạn dữ liệu, rà soát đạo đức ở mức phù hợp, và không công bố bài báo nào từ hành vi học viên nếu chưa có sự đồng ý và quy trình đúng. Là người từng làm nghiên cứu, Châu dễ quên ranh giới giữa phân tích sản phẩm và nghiên cứu trên con người, nên cô viết hẳn thành chính sách.

Một lần về thăm nhà, mẹ Châu nhìn màn hình bảng số liệu rồi hỏi: “Hai mươi nghìn học viên là nhiều không con?”

“Có người chỉ đăng ký rồi không học mẹ ạ.”

“Thế thì đừng gọi hết là học trò.”

Châu bật cười. “Mẹ nói đúng.”

Trang giới thiệu được sửa một dòng. Không còn “20.000 học viên”, mà là “hơn 20.000 lượt đăng ký học trên các khóa miễn phí và trả phí”. Kém đẹp hơn, nhưng đúng hơn. Học viện trưởng thành nhờ hàng trăm lần sửa sai kiểu đó. Không lần nào lan truyền trên mạng, nhưng chúng giúp thương hiệu bớt sống nhờ một người sáng lập được yêu mến.

Châu còn xây dựng quy trình đánh giá giảng viên để sau này không phải khóa nào cũng mang tên cô. Giảng viên mới được đào tạo, được đồng nghiệp dự giờ, nhận phản hồi từ học viên và được xem xét theo kết quả học tập. Việc ai đó “dạy giỏi hơn Châu” không bị coi là mối đe dọa.

Cô cố ý nói với cả nhóm: “Nếu học viên thích một giảng viên khác hơn tôi, đó không phải lý do để tôi giành lớp.”

Trưởng bộ phận vận hành cười: “Chị đang viết chính sách cho chính vết thương của chị đấy.”

“Có thể,” Châu đáp. “Miễn là chính sách đó vẫn hợp lý khi không còn chị ở đây.” Với cô, đó là thước đo lớn nhất.

Bảng số liệu năm thứ hai còn khiến Châu bỏ một chỉ số cô rất thích: tổng số giờ xem. Nó rất cao, nhưng nhóm phát hiện một phần đến từ những video dài bị bật chạy nền, hoặc từ việc người học phải xem đi xem lại vì không hiểu. Thay vì coi nhiều giờ xem là thành công, học viện nhìn thêm tỷ lệ chuyển từ bài giảng sang bài đánh giá, số yêu cầu trợ giúp, điểm rơi rụng theo từng chương, và những lỗi sai lặp lại nhiều lần.

Một chương có thời lượng xem cao nhất hóa ra lại là chương tệ nhất: người học tua đi tua lại vì phần giải thích rối rắm. Châu quay lại bài đó ngắn hơn, thêm ví dụ và bài luyện tập. Thời lượng xem giảm, còn kết quả bài đánh giá tăng lên.

“Chỉ số xấu đi mà khóa học lại tốt hơn,” trưởng bộ phận vận hành nói.

“Thế mới vui,” Châu đáp.

MinhChâu Academy không thắng khoa cũ bằng cách “hút hết sinh viên”. Nó giải được bài toán của riêng mình: có đủ người học để tồn tại, đủ doanh thu để trả công người dạy, đủ quy trình để sửa sai và đủ học bổng để giữ cửa mở. Điều đó đúng hơn nhiều cho cả nhóm, và cũng đủ khiêm tốn để không gọi tất cả những ai từng bấm nút đăng ký kênh là sinh viên của mình.

Đã đọc xong

Chương 7 / 8

Câu chuyện vẫn còn phía trước.

Đọc chương tiếp
Home Trước Sau
Đọc tiếp chỗ đang dở? Bạn đã đọc một phần chương này.
Cài đặt Đọc truyện
Cỡ chữ
Giãn dòng
Độ rộng trang đọc
Kiểu Chữ
Phông Nền
💬 Bình luận đoạn
Đang tải bình luận...