Chương 3: Ba chuyến hàng biến mất
Huyền Ngọc mất hai ngày mới hiểu ý nghĩa của ba con số.
Trong kho sách Cố gia có một hệ thống đánh số rất cũ: mỗi chuyến vận chuyển quốc bảo, hộp niêm, bản dập hoặc vật phục chế đặc biệt đều được ghi bằng số thứ tự. Hệ thống ấy bỏ từ hai mươi năm trước khi Nội phủ đổi cách quản kho, nhưng Từ ma ma vẫn nhớ.
“Số 17, 41 và 63 đều có hồ sơ chính.” bà nói. “Chỉ phần phụ bị rút.”
“Phần phụ gồm gì?”
“Biên bản giao nhận, tên người áp tải, bản vẽ niêm và nơi đến cuối.”
“Ai có quyền rút?”
Từ ma ma nhìn nàng. “Lão gia hoặc người giữ ấn đời trước.”
Cha nàng không để lại lời giải thích, chỉ để ba con số. Điều đó có nghĩa hoặc ông không dám viết thẳng, hoặc từng biết người khác có thể đọc được sổ.
Huyền Ngọc không thể tự vào kho vì cửa niêm vẫn còn nguyên. Trường Khanh lại đang bị theo dõi. Nàng chuyển sang hỏi những thứ nằm ngoài kho.
“Ba chuyến ấy có vật gì đi kèm?”
Từ ma ma suy nghĩ rất lâu rồi lấy từ ngăn tủ riêng ba tấm thẻ tre đã cũ.
“Lão gia dặn nếu cô hỏi đúng câu thì đưa.”
Tấm đầu khắc dấu kho Nội phủ.
Tấm thứ hai khắc hình hải đường ba cánh.
Tấm cuối chỉ có một chữ: Bắc.
“Bắc là đâu?”
“Ta không biết.”
Huyền Ngọc nghĩ tới lăng khai quốc ở phía bắc kinh thành, nhưng một ký hiệu không đủ để biến suy đoán thành kết luận.
Nàng còn đang xem thì ngoài cửa vang tiếng bước chân gấp.
Giấy triệu từ Đại lý tự.
Trường Khanh đã khai trước công đường rằng người đầu tiên nghi ngọc ấn giả chính là Huyền Ngọc.
Nàng nhìn anh trai khi hai người bị dẫn vào phòng thẩm.
Hắn đứng rất thẳng, mắt không nhìn nàng.
“Huyền Ngọc từng xem sổ cũ của phụ thân và cố ý đưa ta bản đồ sai.”
Tạ Đình Sơn ngồi dự thẩm lập tức nói: “Một người cố ý đánh lạc hướng triều đình trong vụ quốc bảo, lý do gì còn để nàng tự do?”
Huyền Ngọc không biện hộ ngay.
Người anh trai mà nàng biết có thể liều, nhưng không ngu tới mức tự dâng bằng chứng buộc em gái giữa lúc Cố gia yếu nhất.
Bản đồ được truyền qua tay thư lại.
Ở góc giấy có ba chấm mực nhỏ.
Ký hiệu hai anh em dùng từ bé khi chơi cờ: đừng nhìn quân đang bị ăn, nhìn quân đối phương vừa di chuyển.
Trường Khanh đang diễn.
Hắn tự biến mình thành kẻ phản bội để buộc bản đồ giả được nhập vào hồ sơ chính thức. Một khi hồ sơ ghi nhận ai đã nhận, ai đã chuyển, đường rò rỉ không còn là câu chuyện riêng của Cố gia.
Huyền Ngọc quay sang quan chủ thẩm.
“Thần nữ xin hỏi một việc. Bản đồ này từ khi huynh trưởng giao cho Đông cung đến khi vào Đại lý tự đã qua tay những ai?”
“Không liên quan.” Tạ Đình Sơn nói.
“Rất liên quan. Kho đá gặp hỏa hoạn trước khi bản đồ vào hồ sơ công khai. Nếu muốn xác định ai biết địa điểm, cần biết đường giấy đi.”
Quan chủ thẩm không thể bác logic ấy. Ông gọi thư lại tra biên nhận.
Danh sách có bảy người.
Một cái tên là Cao Phúc, nội thị thân cận của Thái tử, từng được người Tạ gia nuôi từ nhỏ rồi tiến cử vào cung.
Lý Cảnh Uyên đang dự thẩm nghe tới đó thì sắc mặt lạnh hẳn.
“Ngươi nghi người của Đông cung?”
Huyền Ngọc đáp: “Thần nữ nghi đường truyền tin. Nếu điện hạ muốn bảo vệ Đông cung, càng nên biết ai đang dùng danh nghĩa của điện hạ.”
Cảnh Uyên không nói thêm.
Tạ Đình Sơn lại cười. “Một nội thị có xuất thân từ Tạ gia không chứng minh hắn làm việc cho ta.”
“Đúng.”
Huyền Ngọc gật đầu.
Nàng nhận ra sự bình tĩnh khi thừa nhận điều đối phương nói đúng thường khiến người ta khó chịu hơn việc cãi chày cãi cối.
“Vậy cứ tìm người hỏi.”
Chiều hôm đó, Cao Phúc rời Đông cung không báo.
Hắn chưa đi xa. Đội kiểm soát cổng thành giữ được hắn tại một trạm xe đứng tên chi nhánh thương hành Tạ gia. Trong hành lý có tiền, giấy đi đường giả và một mẩu tin ngắn ghi tuyến kho đá phía nam.
Cao Phúc khai mình bán thông tin cho quản sự Tạ gia để lấy tiền.
Hắn không nhận lệnh trực tiếp từ Tạ Đình Sơn.
Điều ấy chưa đủ quy trách nhiệm cho quốc cữu.
Nhưng đủ chứng minh Đông cung bị thủng.
Cảnh Uyên ra lệnh kiểm lại toàn bộ người hầu thân cận.
Trường Khanh được cho về phủ dưới danh nghĩa “hợp tác điều tra”.
Vừa đóng cửa phòng, Huyền Ngọc giơ tay đánh nhẹ vào vai anh một cái.
“Cái này cho phần anh tự quyết định kéo em lên công đường mà không báo.”
Trường Khanh cười méo. “Ta biết em sẽ nhìn thấy dấu.”
“Biết không có nghĩa anh được quyền.”
“Nếu báo, phản ứng sẽ không thật.”
“Anh có thể nói một câu trước khi đi.”
“Lần sau.”
“Còn lần sau?”
“Nhà mình đang giữ bí mật đủ để có vài lần nữa.”
Huyền Ngọc không thấy câu đó buồn cười.
Trường Khanh lấy từ lớp giày ra một mảnh giấy gấp nhỏ.
“Cha không bảo hủy toàn bộ. Ông bảo chia nó ra.”
Trang giấy mang số 17.
Hồ sơ ghi mười chín năm trước, từ xưởng Cố gia có hai hộp cùng niêm. Một hộp được chuyển vào Nội phủ. Hộp còn lại đi ngược ra ngoài thành theo lệnh của người ký tắt “M.T.”.
“Mạnh Tố nương?” Huyền Ngọc nói.
Trường Khanh nhíu mày. “Nữ quan sản phòng?”
“Trong danh sách người rời cung năm Thái tử sinh có tên ấy.”
Cuối trang số 17 còn một dấu của người áp tải: Lý Đức An, thái giám từng hầu khai quốc Thái hậu, đã qua đời mười năm trước.
Huyền Ngọc trải ba tấm thẻ của Từ ma ma cạnh trang giấy.
Kho Nội phủ.
Hải đường ba cánh.
Bắc.
“Nếu trang 17 là lệnh rời cung,” nàng nói, “trang 41 có thể là nơi nhận, trang 63 là lần kiểm tra sau.”
“Tìm ở đâu?”
“Cha chia cho người khác.”
“Ai?”
“Nếu biết đã chẳng cần ba con số.”
Hai anh em ngồi im một lúc.
Cả hai đều hiểu vấn đề: người giữ trang 41 và 63 có thể đã mất, đổi phe hoặc đang bị theo dõi.
Đêm ấy, thiếp mời của Đông cung tới.
Lý Cảnh Uyên muốn Huyền Ngọc vào phủ, tự tay giám định một món đồ bí mật.
Trường Khanh đọc xong rồi hỏi:
“Đi không?”
“Đi.”
“Em không sợ hắn muốn giữ em lại?”
“Sợ.”
Huyền Ngọc sao trang 17 thành ba bản.
Một bản giao cho quan chủ thẩm Đại lý tự theo biên nhận.
Một bản gửi một học giả quen Cố gia ở ngoại thành.
Bản cuối nàng niêm trong kho của Từ ma ma.
Trường Khanh nhìn nàng làm, cười méo xệch.
“Em chuẩn bị đường lui kỹ thật.”
“Không.” Huyền Ngọc đáp. “Em chuẩn bị để nếu mình bị giữ lại, việc giữ mình cũng không làm hồ sơ biến mất.”
Sáng hôm sau, nàng bước lên xe Đông cung.
Trong tay áo không có bản gốc nào.
Chỉ có một mảnh than nhỏ, một cây kim mảnh và câu hỏi nàng muốn biết nhất:
Thái tử đang sợ chiếc ngọc ấn giả, hay đang sợ chính thân phận của mình?