Chương 3: Giọt Nước Mắm Khiến Cả Hiệp Hội Im Lặng
Cuộc họp kiểm tra chéo diễn ra ở phòng họp tầng hai trụ sở hiệp hội nước mắm truyền thống, một căn phòng ốp gỗ có treo ảnh các bậc thầy nghề đã khuất. Có đại diện chuỗi đặc sản Việt, hai luật sư, ba thành viên ban kỹ thuật hiệp hội và phóng viên của hai tờ báo. Trên bàn đặt sẵn những chiếc đĩa sứ trắng nhỏ, thứ đồ nghề quen thuộc mỗi khi hiệp hội cần thử mắm.
Trịnh Quang Vinh đến muộn mười phút, cố tình bước vào đúng lúc mọi người đã ngồi yên để lấy khí thế. Nguyễn Thùy Dung đi cạnh hắn, áo vest trắng chỉnh tề, gương mặt trang điểm kỹ nhưng mí mắt hơi sưng. Hắn kéo ghế ở đầu bàn, chỗ dành cho phó chủ tịch, rồi nhìn Bùi Khánh Toàn như nhìn một người giao hàng đi nhầm tầng.
“Tôi nói ngắn thôi, vì thời gian của các vị quý hơn chuyện này,” hắn mở đầu, giọng mỉa mai. “Anh Toàn chỉ là người làm thuê bị ảo tưởng công lao. Bí phương nhà thùng đã được chuyển giao hợp pháp cho công ty tôi. Tôi đề nghị các đối tác chấm dứt mọi liên hệ với anh ta để tránh rủi ro pháp lý.” Vài người gật đầu lấy lệ. Không khí nghiêng hẳn về phía hắn, như thể tiền và danh thiếp dày có thể thay cho sự thật.
Phạm An Khuê không cãi. Cô bật máy chiếu, yêu cầu từng bên xác nhận quy trình kiểm tra hôm nay, ghi vào biên bản, rồi mới mời ông Hưng, kiểm toán viên độc lập, trình bày. Trang đầu tiên là mốc thời gian. Trang thứ hai là dấu vết chỉnh sửa trên các văn bản công ty của Vinh. Trang thứ ba nối cuốn sổ ủ chượp ba đời, phiếu kiểm nghiệm đạm và hợp đồng vùng nguyên liệu với khoản lợi nhuận mà Trịnh Quang Vinh từng khoe trên báo là thành quả của riêng mình.
Mồ hôi bắt đầu rịn ở thái dương hắn. Hắn cười gằn, nói tài liệu có thể bị cắt ghép, thời buổi này ai chẳng biết dùng phần mềm. Bùi Khánh Toàn lặng lẽ đặt lên bàn một phong bì niêm phong. Bên trong là bản xác nhận của đơn vị lưu trữ, lịch sử truy cập két ngân hàng và biên bản mở két có chữ ký của ông Hưng sáng qua. Con dấu đỏ nằm dưới đèn trắng, rõ đến mức người ngồi cuối bàn cũng nhìn thấy.
Ông Tạ, trưởng ban kỹ thuật hiệp hội, người đã ngoài bảy mươi, đẩy gọng kính lên. “Giấy tờ thì để luật sư xem,” ông nói chậm rãi. “Hiệp hội chúng tôi xem mắm. Cậu Toàn, cậu nói mắm nhà cậu bốn mươi độ đạm tự nhiên. Công ty anh Vinh cũng đang bán một dòng ghi bốn mươi độ, nhãn ghi theo bí phương nhà thùng Phú Quốc. Hai bên có mang mẫu không?”
Trịnh Quang Vinh nhếch mép, ra hiệu cho trợ lý đặt lên bàn một chai thủy tinh nhãn vàng sang trọng. Bùi Khánh Toàn đặt cạnh đó chai nút sáp đỏ. Ông Tạ nhỏ mỗi chai một giọt lên hai đĩa sứ riêng, không cần ai giải thích.
Giọt mắm nhãn vàng màu nâu sẫm, hơi đục, chạm đĩa là loang ra thành vệt mỏng, mùi xộc lên nhanh và gắt. Giọt mắm nút sáp đỏ thì đứng tròn, màu cánh gián trong veo, ánh lên dưới đèn như hổ phách. Ông Tạ cúi xuống ngửi từng đĩa, chấm đầu ngón út nếm. Ông im lặng rất lâu. Hai thành viên ban kỹ thuật kia cũng cúi xuống, rồi nhìn nhau.
Bùi Khánh Toàn ngồi yên, hai tay đặt trên mặt bàn. Anh không cần nhìn cũng biết giọt mắm của mình trông thế nào. Hồi nhỏ, ông nội dạy anh nhỏ mắm lên móng tay cái: mắm thật đứng giọt, mắm non hay mắm pha thì chảy. Ông bảo người làm mắm có thể nói dối bằng miệng, chứ không nói dối được bằng giọt mắm. Anh đã mang câu ấy theo suốt những năm học kinh tế ở Sài Gòn, những năm đi chào hàng ở các siêu thị lớn, và cả cái đêm bị lôi ra khỏi căn nhà thùng trên Hàng Bạc.
Cả phòng họp im phăng phắc. Không ai nói một lời, nhưng ai làm nghề cũng hiểu cái im lặng ấy nghĩa là gì. Một giọt mắm thật không cần tranh luận, nó chỉ cần được đặt cạnh một giọt mắm giả.
“Mắm nhãn vàng có đạm, nhưng không phải đạm của mười hai tháng nằm thùng,” ông Tạ nói, giọng khàn. “Tôi ngửi mắm sáu mươi năm rồi. Cái này chượp chưa chín đã kéo, rồi người ta bù vào bằng thứ gì đó. Tôi không nói là hóa chất, tôi chỉ nói nó không phải mắm nhĩ ba đời.” Rồi ông quay sang Trịnh Quang Vinh. “Anh Vinh, anh lấy chượp ở đâu?”
Trịnh Quang Vinh đứng phắt dậy, ghế rít trên sàn gỗ. Hắn nói đây là trò dàn dựng, rằng mẫu của Bùi Khánh Toàn chắc chắn đã được pha chế riêng để đi thi. Một đối tác từng quay lưng với anh ho nhẹ, hỏi vì sao bộ hồ sơ có dấu đỏ kia chưa từng được công bố.
Bùi Khánh Toàn nhìn thẳng vào Trịnh Quang Vinh. “Vì tôi muốn cho anh ta cơ hội trả lại thứ không thuộc về mình,” anh nói. “Anh ta chọn mở họp báo bôi nhọ tôi.” Câu nói không nặng, nhưng rơi xuống bàn như một cái tát.
Nguyễn Thùy Dung cúi đầu nhìn điện thoại. Trong gói chứng cứ phụ mà ông Hưng vừa chiếu lên, có ảnh chụp đoạn tin nhắn cũ giữa cô và Trịnh Quang Vinh, đúng thời điểm họ bàn cách ép Bùi Khánh Toàn ký giấy từ bỏ quyền lợi. Mặt cô trắng bệch. Lớp son đỏ trên môi bỗng trở nên chói mắt. Cô cố nhấc ly nước, tay run đến mức nước sóng sánh tràn ra khăn trải bàn.
Trịnh Quang Vinh đập bàn, quát rằng tất cả là âm mưu của một quỹ đầu tư muốn thâu tóm thương hiệu. Ngay khi hắn chỉ tay về phía Phạm An Khuê, luật sư của chuỗi đặc sản Việt lên tiếng, đề nghị ghi nhận hành vi đe dọa vào biên bản. Hắn khựng lại, ngón tay còn lơ lửng giữa không trung. Lần đầu tiên, cái giọng quen ra lệnh của hắn bị chặn ngang bằng một thủ tục giấy tờ.
Cả phòng không ai cười nữa. Cú phản đòn ấy chưa đủ làm hắn sụp đổ, nhưng đủ để đại diện chuỗi đặc sản Việt tuyên bố tạm hoãn hợp đồng đang ký với công ty hắn, chờ thẩm định thêm. Chiều hôm đó, báo chí đổi tiêu đề từ “kẻ phản bội” thành “nghi vấn chiếm đoạt công lao trong dự án nước mắm truyền thống”.
Bùi Khánh Toàn bước ra khỏi trụ sở hiệp hội, nắng chiều gắt trên mặt đường. Anh biết vòng đầu mình đã thắng, nhưng anh cũng biết con thú bị thương thường cắn dữ hơn.
Đúng như vậy, tối cùng ngày, ngân hàng thông báo tài khoản dự án bị đưa vào diện rà soát bất thường. Một đối tác gọi cho Phạm An Khuê, giọng ái ngại, nói họ phải tạm ngừng chuyển khoản đợt hai. Trên mạng, một loạt bài viết mới xuất hiện cùng lúc, cáo buộc Bùi Khánh Toàn dùng nhà thùng của gia đình làm bình phong rửa tiền. Trịnh Quang Vinh đã ném một con dao bẩn hơn lên bàn.
Phạm An Khuê đứng bên cửa sổ văn phòng, nhìn xuống dòng xe trên Lý Thái Tổ. “Anh có hối hận không?” cô hỏi. Bùi Khánh Toàn nhìn thành phố lên đèn, đáp: “Nếu họ phải dùng đến lời vu khống mới giữ được ghế, nghĩa là cái ghế đó đã lung lay.” Cô im lặng vài giây rồi đặt trước mặt anh một tờ giấy chi chít chữ: danh sách việc cần làm trong hai mươi bốn giờ tới. Không có lãng mạn rẻ tiền, chỉ có chiến tranh thật sự.
Trước đó, lúc anh ra bãi xe của hiệp hội, một người đàn ông trung niên đã đứng chờ sẵn. Đó là chủ ghe chở muối từng giao hàng cho nhà thùng, người hôm buổi công bố có mặt mà không nói một câu. Ông lúng túng dúi vào tay anh bản photo phiếu giao muối Sa Huỳnh, có chữ ký nhận của thủ kho công ty Vinh.
Bùi Khánh Toàn nhận, nhưng không cảm ơn vội. “Hôm đó sao chú không nói?” anh hỏi. Người kia cúi đầu, xoay xoay chiếc mũ trong tay. “Vì sợ.” Câu trả lời thật đến mức làm không khí đắng hơn cả lời phản bội.
Anh cất phiếu giao muối vào túi hồ sơ phụ. Một vụ lật kèo không chỉ cần một bằng chứng lớn, mà cần nhiều mảnh nhỏ khớp vào nhau đến mức đối phương không thể bẻ từng mảnh. Những người từng im lặng vì sợ cũng có thể trở thành nhân chứng, miễn là họ thấy phe sự thật chưa chết.
Ở một nhà hàng riêng trên phố Tràng Tiền, Trịnh Quang Vinh cố cười khi tiếp khách, nhưng đầu gối dưới khăn bàn run nhẹ không dứt. Hắn ép mình uống thêm rượu để giữ vẻ bình thản. Men cay trôi qua cổ, còn hình ảnh giọt mắm đứng tròn trên đĩa sứ thì mắc lại trong ngực hắn như một hòn đá lạnh.