Chương 2 / 8 ◆ ~9 phút đọc

Chương 2: Cuốn sổ của người không biết khí hậu học

Hà Miên đọc cuốn sổ của cha tôi từ bảy giờ sáng đến gần trưa, ngay trong căn phòng ẩm mốc của trạm khí tượng cũ. Cô không đọc như người ta đọc nhật ký. Cô chia trang, đánh dấu ngày, rồi kiên nhẫn chuyển những câu chữ rất quê mùa thành dữ liệu.

“Rét ngọt kéo dài, lá tím mép” thành số ngày nhiệt độ thấp đầu mùa. “Mưa tới muộn, búp nứt chậm” thành ngày bắt đầu có mưa hiệu quả. “Suối cạn trước tiết Thanh minh” thành chỉ báo độ ẩm đất. Đến dòng “Mẻ đầu thơm như mật, cha uống ba chén”, cô ngẩng lên.

“Câu này khó mã hóa.”

Tôi bật cười. “Cha tôi đâu biết sẽ có người cần dữ liệu.”

“Nhưng ông ấy biết quan sát.”

“Hai cái đó khác nhau à?”

“Nhiều nhà khoa học bắt đầu từ một người chịu ghi lại thứ mình thấy, trước khi biết tên chính xác của nó.”

Tôi nhìn cuốn sổ. Cha tôi học hết lớp bảy. Ông không biết hồi quy, không biết chuỗi thời gian hay xu hướng khí hậu. Nhưng ông biết năm nào côn trùng xuất hiện sớm, biết cây nào bật búp sau sương, biết mùi lá đổi khác trước khi trời mưa. Những thứ ấy không tự biến thành khoa học chỉ vì được viết xuống, nhưng cũng không đáng bị coi là mê tín chỉ vì người viết không có bằng cấp.

Hà Miên lấy dữ liệu của trạm khí tượng gần nhất từ năm 1994, chồng lên các mốc trong sổ của cha. Có năm thiếu, có ngày lệch, nhưng xu hướng hiện ra khá rõ. Những mùa được cha đánh dấu “hương tốt” thường có một giai đoạn lạnh kéo đủ dài trước khi bật búp, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm cao, mưa đầu xuân không đến quá sớm, đất giữ ẩm đều mà không úng. Còn mười năm gần đây, số ngày lạnh giảm, ban đêm ấm hơn, và có hai đợt nóng sớm ập đến đúng lúc búp đang tích lũy chất thơm.

“Vậy là xong rồi?” tôi hỏi. “Khí hậu làm trà nhạt?”

Hà Miên lắc đầu. “Không nhanh thế được. Còn nhiều yếu tố khác: tuổi cây, cường độ hái, đất, bóng che, sâu bệnh, cách sao, thời điểm hái. Nếu vội thích một kết luận, chúng ta chỉ thay huyền thoại cũ bằng một huyền thoại khoa học.”

Tôi thích câu ấy.

Chúng tôi xuống bản khảo sát hai mươi cây. Không chọn cây đẹp nhất; Hà Miên chọn ngẫu nhiên theo ba nhóm tuổi: cây cổ già nhất, cây trung niên, và cây con mọc tự nhiên dưới tán. Với mỗi cây, chúng tôi ghi độ che tán, độ ẩm đất, số đợt hái năm trước, dấu vết sâu bệnh, độ dài đọt, hướng sườn, người hái và giờ hái.

Tôi thấy hơi buồn cười. Cả đời làm trà, chưa bao giờ tôi đo xem một cây được che bóng bao nhiêu phần trăm. Cha tôi chỉ nói: “Cây này nắng gắt, để cành dẻ phía trên.” Giờ chúng tôi đo, không phải để chứng minh cha sai, mà để biết lời ông còn đúng tới đâu khi khí hậu đã đổi.

Đến cây thứ tám, chúng tôi tới đất nhà Vừ Sính, chính là người trẻ đã cãi tôi trong buổi họp hôm trước. Nhà anh có đúng bảy cây cổ. Sính đứng khoanh tay nhìn đống dụng cụ.

“Đo xong thì trà có thơm lại không?”

“Chưa biết.”

“Vậy đo làm gì?”

“Để biết mình nên thử cái gì.”

“Tôi không có tiền để thử.”

Tôi biết. Anh có hai đứa con học nội trú dưới huyện, mẹ bị bệnh phổi, năm ngoái giá phân bón tăng vọt, hợp tác xã còn nợ tiền làm đường. Căn nhà sàn của anh vách gỗ đã cong vênh, góc sân xếp mấy bao phân mua chịu chưa trả hết. Trong bản, ai cũng biết nhà Sính chăm cây kỹ nhất, và cũng ai cũng biết mùa nào nhà anh cũng phải hái đến búp cuối cùng.

“Anh bảo nghỉ hái cây già,” Sính nói. “Nghỉ hai cây thôi là nhà tôi mất gần một phần ba tiền đầu mùa.”

“Nếu cây kiệt rồi chết thì sao?”

“Thì vài năm nữa nó chết. Còn tháng này, con tôi phải đóng tiền.”

Đó là bản chất của rất nhiều bài toán môi trường: lợi ích của bảo tồn nằm ở tương lai, còn chi phí phải trả ngay hôm nay. Người có tiền bao giờ cũng dễ chọn tương lai hơn.

“Nếu có người trả anh theo giá trung bình ba năm cho phần không hái, anh có cho hai cây nghỉ không?” tôi hỏi.

Sính nhìn tôi. “Ai trả?”

“Tôi chưa biết.”

“Vậy đừng hỏi.” Anh quay lưng bỏ đi.

Hà Miên không trách anh. Cô nói với tôi: “Anh phải thiết kế thí nghiệm như thiết kế chính sách.”

“Nghĩa là sao?”

“Muốn người nghèo tham gia một thử nghiệm dài hạn thì phải tính chi phí cơ hội của họ. Không thể bảo họ hy sinh cho dữ liệu.”

Tôi nhìn cô. “Cô nói chuyện giống dân kinh tế.”

“Làm khí hậu học mà không hiểu chuyện tiền nong thì thường chỉ làm ra mấy bản trình chiếu đẹp.”

Chiều hôm đó, chúng tôi họp với xã. Tôi đề nghị lập “lô cây nghỉ” gồm hai mươi cây trong ba năm, mỗi cây giảm cường độ hái ở những mức khác nhau. Chủ cây nhận khoản bù tương đương sản lượng không thu hoạch, tính theo mức trung bình ba năm chứ không theo giá thấp nhất. Đổi lại, họ phải cam kết không hái lén, cho phép đo cây định kỳ, ghi chép ngày chăm sóc, không dùng hóa chất ngoài thỏa thuận. Và quan trọng nhất, nếu kết quả cho thấy cho cây nghỉ không cải thiện được gì, chúng tôi cũng sẽ công bố.

Chủ tịch xã hỏi: “Tiền lấy ở đâu?”

Tôi đưa ra ba nguồn: một phần quỹ du lịch; một phần từ việc bán lô trà nghiên cứu với giá cao hơn, người mua biết rõ đây là lô thử nghiệm; và một phần xin tài trợ từ một chương trình bảo tồn nông nghiệp của trường đại học.

“Tôi có thể giúp làm hồ sơ nghiên cứu,” Hà Miên nói, “nhưng không bảo đảm xin được tài trợ.”

Hoàng Sử cười. “Rốt cuộc vẫn là xin tiền người ngoài để dạy chúng tôi trồng trà.”

“Không,” tôi đáp. “Xin tiền để chúng ta có quyền thử mà không bắt nhà nghèo gánh hết rủi ro.”

“Nếu ba năm sau chẳng được gì?”

“Thì ít nhất ta biết một cách không hiệu quả.”

“Ai mua cái biết đó?”

“Chính chúng ta. Để khỏi mất thêm ba mươi năm làm sai.”

Cuộc họp không kết thúc bằng đồng thuận. Chín hộ đồng ý, bốn hộ từ chối, số còn lại chờ xem tiền thật có về không. Tôi không ép ai. Một nghiên cứu dựa trên những người không có quyền từ chối thì không phải hợp tác.

Hai tuần sau, chương trình đại học phản hồi. Họ đồng ý hỗ trợ năm đầu tiên. Số tiền không nhiều, nhưng đủ chi trả cho hai mươi cây.

Nhà Sính là hộ ký cuối cùng. Anh cầm bản hợp đồng đọc rất lâu, ngón tay dò từng dòng.

“Nếu tiền về trễ?”

“Hợp tác xã ứng trước.”

“Nếu anh chết?”

Tôi khựng lại. “Gì cơ?”

“Anh là người đứng ra. Nếu anh chết thì ai trả?”

Hà Miên liếc sang tôi, khóe miệng hơi nhếch lên. Câu hỏi rất hay, và tôi xấu hổ vì mình chưa từng nghĩ tới. Tôi vẫn coi mình là người đứng ra gánh vác, mà quên rằng với người ký tên, một lời hứa gắn vào một con người cũng mong manh như chính con người ấy. Chúng tôi sửa lại hợp đồng: người chi trả không phải Nguyễn Hoàng Tuấn, mà là một quỹ riêng có tài khoản và ba người cùng quản lý. Không để cả dự án phụ thuộc vào một người.

Cha tôi từng ghi sổ một mình, nhờ vậy hôm nay chúng tôi mới có dữ liệu. Nhưng nếu cuốn sổ ấy cháy, mọi thứ sẽ mất sạch. Tôi bắt đầu chụp và số hóa toàn bộ, mỗi bản đều giữ ảnh trang gốc chứ không chỉ nhập con số. Một câu như “trà thơm, cha uống ba chén” có thể vô dụng với mô hình hôm nay, nhưng ai biết mười năm nữa người khác sẽ đọc được gì từ nó.

Đến cuối mùa, hai mươi cây nghỉ hái trông chẳng khác bao nhiêu. Không có phép màu, không có búp nào đột nhiên thơm trở lại. Nhưng rễ non ở vài cây tăng lên, độ ẩm dưới những tán cây được che bóng tốt ổn định hơn, còn cây ở sườn nắng gắt thì phản ứng kém hẳn.

“Có thể vấn đề không chỉ nằm ở chuyện hái nhiều,” Hà Miên nói. “Có thể vi khí hậu quanh cây quan trọng hơn chúng ta tưởng.”

Tôi nhìn những gốc dẻ từng bị chặt bớt để khách du lịch có góc chụp cây trà đẹp hơn. Trong ảnh, cây trà đứng một mình trông rất hùng vĩ. Ngoài tự nhiên, nó chưa bao giờ sống một mình.

Tôi chợt nhận ra một sai lầm khác. Chúng tôi đã bán hình ảnh cây cổ thụ đến mức bắt đầu sửa cả khu rừng cho giống với hình ảnh ấy.

Đã đọc xong

Chương 2 / 8

Câu chuyện vẫn còn phía trước.

Đọc chương tiếp
Home Trước Sau
Đọc tiếp chỗ đang dở? Bạn đã đọc một phần chương này.
Cài đặt Đọc truyện
Cỡ chữ
Giãn dòng
Độ rộng trang đọc
Kiểu Chữ
Phông Nền
💬 Bình luận đoạn
Đang tải bình luận...