Chương 2: Ba Sổ Kho Không Khớp Nhau
Trời chưa sáng hẳn, sân kho phía tây đã dựng ba chiếc bàn dài. Trên bàn thứ nhất là sổ kho do Phùng Kính quản. Bàn thứ hai đặt sổ mua bán của hai cửa hàng gạo thuộc Tô gia. Bàn cuối cùng là một chồng phiếu nhận từ các trạm trung chuyển, có tờ còn dính bùn khô ở mép. Mạn Ninh không cho ai ngồi theo vai vế. Người nào giữ sổ nào thì đứng cạnh sổ ấy, để mỗi con số khi bị hỏi đều có người chịu trách nhiệm giải thích.
Tô lão gia đến muộn hơn một khắc. Ông đã thay áo tiệc bằng áo thường, mắt thâm vì thức cả đêm. Vừa bước vào sân, ông đã nhìn thấy mười hai bao lương được chọn ngẫu nhiên, trên mỗi bao có số than đen và một sợi dây gai xanh buộc riêng sau khi cân. “Thiếu bao nhiêu?” ông hỏi.
“Chưa thể nói tổng số.” Mạn Ninh đáp. “Mười hai bao chỉ cho thấy có vấn đề. Muốn biết thiếu ở đâu phải đối chiếu đường đi của hàng.”
Nàng dùng ngón cái miết mép cuốn sổ rồi chỉ vào một dòng cuối tháng trước. Sổ kho ghi xuất tám mươi bao cho trạm Nam Khê. Sổ cửa hàng lại ghi bán thêm hai mươi bao cùng ngày cho một thương nhân họ Lạc. Phiếu của trạm Nam Khê chỉ nhận sáu mươi bảy bao, trong đó ba bao rách phải đổ lại. Số còn lại không có giấy nào xác nhận.
Phùng Kính lập tức chen vào: “Phiếu trạm thường về chậm. Có khi người áp tải cầm theo rồi làm mất.”
“Nếu mất một phiếu, ta có thể tin.” Mạn Ninh lật thêm ba trang. “Nếu bốn chuyến liên tiếp đều mất đúng phần chênh, ta phải hỏi vì sao sự bất cẩn lại biết chọn cùng một hướng.”
Quế Nương ngồi xổm bên bàn, dùng dây nhỏ xâu các phiếu theo ngày. Nàng từng làm dâu trong một nhà bán gạo, biết cách nhìn dấu cân và cách người buôn viết tắt tên đơn vị. “Đại tiểu thư,” nàng gọi, “cùng một người ký nhận hai chuyến cách nhau ba ngày, nhưng nét mực này khác. Chữ ‘Khê’ ở tờ thứ hai có nét móc trái tay.”
Mạn Ninh không vội nói giả mạo. Nàng đưa cả hai tờ cho Tô lão gia. “Cha có nhận ra dấu này không?”
Ông nhìn rất lâu. “Dấu là của trạm.”
“Dấu có thể thật mà người đóng dấu chưa chắc là người ký.” Nàng nói. “Ta cần người đến Nam Khê hỏi sổ lưu tại trạm. Không lấy lời kể miệng làm căn cứ.”
Phùng Kính cau mày. “Đại tiểu thư làm như xét án. Việc nhà buôn vốn có hao hụt. Thóc gạo gặp ẩm, chuột cắn, đường xấu, người đánh xe lấy trộm vài đấu cũng không lạ.”
Mạn Ninh đi tới chiếc cân. Nàng lấy một bao vừa cân đủ, dùng que tre chọc sâu vào giữa rồi rút ra. Hạt bên ngoài khô nhưng phần giữa có hơi ẩm, bết nhẹ vào đầu que. “Hao hụt có lý do thì ghi lý do. Hàng ẩm phải giảm giá hoặc phơi lại. Bao rách phải có người chứng kiến. Chuột cắn phải để lại dấu. Không thể lấy hai chữ hao hụt làm cái hố để đổ mọi con số xuống.”
Hà tẩu dẫn hai người kéo chiếc cân của kho ra cạnh cân chuẩn từ cửa hàng gạo. Cùng một bao, cân trong kho báo nặng hơn gần hai cân. Mạn Ninh bảo đổi quả cân, rồi đổi dây treo, vẫn vậy. Cuối cùng, Hà tẩu nhấc quả cân bằng đồng lên và gõ vào mặt dưới. Một lớp chì mỏng đã được nhét vào khoang rỗng rồi trét sáp cho kín.
Tô lão gia nhìn Phùng Kính. “Cái này ngươi giải thích thế nào?”
Phùng Kính tái mặt nhưng vẫn giữ được giọng. “Cân cũ, có người sửa sai. Lão nô quản quá nhiều việc, không thể biết hết.”
“Ta tin ông chưa chắc tự tay làm,” Mạn Ninh nói. “Nhưng từ hôm nay ông không giữ chìa khoá một mình nữa.”
Hắn ngẩng phắt lên. “Đại tiểu thư nghi lão nô?”
“Ta nghi một hệ thống cho phép một người vừa giữ chìa khóa, vừa giữ sổ, vừa gọi người cân, rồi cuối tháng tự giải thích phần thiếu.” Nàng lấy chùm chìa khóa từ tay hắn và chia làm hai. “Kho mở phải có hai người. Xuất hàng phải có người cân khác với người ghi sổ. Dây niêm đổi sang mẫu mới, ghi lại số cuộn dây phát ra.”
Đó không phải câu trả lời khiến mọi người hả giận. Không ai bị kéo ra sân đánh, cũng không có cảnh Phùng Kính quỳ xuống nhận tội. Nhưng những người đứng quanh bàn bắt đầu nhìn nhau khác đi. Ai từng quen với việc ký hộ, nhận hộ, nhớ đại khái đều hiểu từ hôm nay sẽ khó hơn.
Buổi trưa, người được phái đến Nam Khê trở về cùng trạm phó. Ông ta mang theo sổ lưu của trạm, mép sổ đã sờn, mỗi trang có hai cột: hàng vào và hàng ra. Con số sáu mươi bảy bao của chuyến đầu đúng với phiếu Tô gia giữ. Ba chuyến khác cũng đều thấp hơn sổ kho. Đáng chú ý hơn, ở cột người giao có hai cái tên không thuộc đội xe Tô gia.
“Hai người này là ai?” Mạn Ninh hỏi.
Trạm phó nhíu mắt. “Họ nói là người thay ca của Phùng quản sự. Có mang thẻ gỗ Tô gia.”
Phùng Kính lập tức phản bác rằng thẻ gỗ có thể bị trộm. Mạn Ninh đồng ý. “Có thể. Vì vậy ta chưa kết tội ai. Trạm còn giữ dấu dây niêm của những bao giao thiếu không?”
Trạm phó lắc đầu. “Dây cắt rồi thường bỏ.”
“Từ chuyến tới, xin giữ lại một đoạn dây của mỗi xe cùng số xe. Ta trả công ghi chép thêm.”
Ông ta nhìn nàng, hơi ngạc nhiên. “Cô nương làm thế để làm gì?”
“Để biết bao nào rời kho nguyên niêm mà đến trạm bị đổi, bao nào đã khác từ lúc ra cửa.”
Trong buổi chiều, Mạn Ninh cùng Quế Nương lập lại danh sách hàng có thật. Không dùng con số trên sổ cũ, họ mở từng dãy kho, đếm số bao, cân mẫu theo tỷ lệ và đánh dấu những bao ẩm. Phần thiếu cuối cùng lớn hơn dự tính: nếu tính theo cam kết giao tới biên doanh, Tô gia chỉ còn đủ khoảng bảy phần mười lượng cần giao, chưa tính hao hụt đường dài.
Tô lão gia ngồi xuống bậc cửa. Ông không còn tức giận mà chỉ trông già đi vài tuổi. “Ta ký từng sổ tháng,” ông nói. “Ta đã nhìn con dấu.”
Mạn Ninh ngồi cạnh nhưng không an ủi bằng lời nhẹ nhàng. “Cha nhìn dấu chứ không nhìn dòng hàng. Con cũng không có quyền nói mình giỏi hơn nếu chỉ vì phát hiện muộn hơn người khác. Việc trước mắt là bù số thiếu và giữ bằng chứng để truy lại.”
“Lấy đâu ra bạc?”
Nàng đã tính từ sáng. Một phần cửa hàng có thể bán hàng dự trữ không thiết yếu. Một số ruộng vụ sau có thể dùng làm bảo đảm vay ngắn hạn. Nhưng nếu mua lương gấp tại chợ chính, giá đã tăng vì tin thiếu hàng lan ra. Cách còn lại là gom hàng từ những điểm nhỏ dọc tuyến, đổi phương thức vận chuyển, giảm số chuyến rỗng và tận dụng những người đang bị các thương đội lớn bỏ ngoài cửa.
“Con cần xe và người,” nàng nói. “Không cần toàn những phu xe mà thương hội đang tranh nhau thuê. Những người biết chăm ngựa, vá bao, tính hàng, đi đường dài đều dùng được.”
Hà tẩu nghe vậy bật cười khô. “Nếu cô nương dám thuê đàn bà, ngoài cổng đang có cả đám. Góa phụ của phu xe, con gái nhà trạm, người bị nhà chồng trả về. Họ biết việc nhưng không ai giao xe.”
“Ta không thuê vì họ là đàn bà.” Mạn Ninh nói. “Ta thuê nếu họ làm được.”
Chiều muộn, nàng cho treo một tấm bảng trước kho: cần người biết buộc tải, chăm ngựa, tính sổ, sửa bánh, nấu ăn đường dài; trả công theo vị trí, có tiền thưởng nếu giao hàng đủ và đúng hạn. Dòng cuối ghi rõ ai không biết sẽ được thử việc ba ngày, không có chuyện nhận chỉ vì thương hại.
Đến lúc mặt trời gần tắt, sân ngoài đã có hơn bốn mươi người đứng chờ.
Mạn Ninh đi một vòng nhìn bàn tay, giày, cách họ cầm dây cương chứ không nhìn tuổi hay áo quần. Một phụ nữ trẻ bế con nói mình chỉ biết nấu ăn. Hà tẩu hỏi nàng có phân biệt được lúa mốc và lúa ẩm mới không. Nàng trả lời đúng. Một bà góa ngoài bốn mươi bước lên tháo trục bánh xe mẫu trong thời gian ngắn hơn hai người làm cũ.
Phùng Kính đứng từ xa, nét mặt kín như tường.
Nàng dùng đốt ngón tay gõ ba tiếng vào vành bánh xe mẫu. Nan bánh rung đều. Mạn Ninh quay sang Quế Nương. “Ghi tên. Ngày mai thử tải.”
Đêm đó, nàng mới cho phép mình mệt. Trong phòng không thắp nhiều đèn, cuốn sổ trải trước mặt kín các con số thiếu. Nàng nhìn bàn tay này, nhỏ hơn bàn tay mình ở đời trước, rồi nhớ đến những người vừa xếp hàng ngoài sân. Nếu nàng tính sai, không chỉ Tô gia mất tiền; những người kia có thể mất khoản công cuối cùng họ trông vào.
Nàng đặt đầu ngón tay lên mép sổ và giữ nguyên rất lâu. Cảm giác chắc chắn ban sáng đã biến mất. Một kế hoạch trên giấy chưa từng kéo nổi một cỗ xe qua dốc lầy.
Rồi từ sân vọng vào ba tiếng gõ thử bánh của Hà tẩu: cốc, cốc, cốc.
Mạn Ninh khép sổ lại. Nàng không cần tin rằng mình chắc thắng. Nàng chỉ cần sáng mai kiểm từng việc một, đủ kỹ để thất bại nếu có cũng không đến từ sự cẩu thả.