Chương 3: Cảm Hứng Chung, Đường Cắt Riêng
Khó nhất không phải là chứng minh “Mùa Nước Nổi” ra đời trước show Paris. Khó nhất là chứng minh phần nào trong nó thuộc về ai.
Luật sư trải hai tờ giấy dài lên bàn họp, mỗi tờ là một dòng thời gian. Một bên là quãng Phương Anh làm việc tại Quân Couture, một bên là lịch phát triển bộ sưu tập. Hai đường kẻ chồng lên nhau gần bảy tuần. Chị đặt bút vào đúng khoảng ấy, khoanh một vòng tròn.
“Đây. Trong bảy tuần này, cô phải hết sức cẩn thận.”
Phương Anh mở kho lưu trữ cũ. Nhiệm vụ cuối cùng cô nhận khi làm tự do cho Quân là nghiên cứu về bề mặt đất, nước và kỹ thuật nhuộm tự nhiên cho một dự án chưa ra mắt. Trong bảng ý tưởng có ảnh bờ sông, có dải màu nâu đỏ, có vải thô, đúng những thứ về sau xuất hiện trong “Mùa Nước Nổi”. Quân Couture đã nộp chính những file ấy cho hội đồng ngành nghề đang xem xét tranh chấp. Họ không làm giả gì. Ngày tạo file là thật, và sớm hơn cô tưởng.
Phương Anh ngồi im rất lâu. Bảo Ngọc khẽ chạm vào tay cô. “Chị ổn không?”
“Không.”
“Mình thua rồi à?”
“Chị không biết.”
“Lúc này cô đừng nghĩ theo kiểu thắng hay thua,” luật sư nói, kéo một tờ giấy trắng về phía mình. “Ta phải tách ra.”
Họ tách từng nhóm, chậm và kỹ như gỡ một cuộn chỉ rối. Phần ý tưởng và không khí: đồng bằng, phù sa, mùa nước nổi, màu đất, không thể đòi độc quyền, và một phần nghiên cứu nằm trong nhiệm vụ cũ. Phần kỹ thuật: vài cách hoàn thiện và kiểu gập viền học từ studio, cần ghi công đúng, không nhận là sáng tạo độc lập. Phần cấu trúc trang phục: bốn look có lịch sử rập phát triển sau khi Phương Anh hết hợp đồng, được thợ may mẫu độc lập xác nhận. Phần xử lý bề mặt: hai kỹ thuật nhuộm được phát triển cùng một xưởng thủ công ở An Giang, cần kiểm lại thỏa thuận với xưởng, không tự nhận trọn. Còn phần dàn dựng và câu chuyện trên sàn diễn Paris, Quân Couture có đóng góp mới thật sự.
Phương Anh đọc lại bảng. Vụ việc của cô vừa nhỏ đi, vừa mạnh lên. Nhỏ đi vì cô không thể nói “họ cướp cả bộ sưu tập từ đầu tới cuối”. Mạnh lên vì những gì còn lại đều cụ thể tới từng đường may.
Đúng lúc ấy, một bài phỏng vấn Quân xuất hiện trên mạng. Ông không gọi Phương Anh là kẻ vô ơn. Ông chỉ nói: “Tôi đã đào tạo nhiều nhà thiết kế trẻ. Ranh giới giữa việc hướng dẫn và quyền tác giả không phải lúc nào cũng đơn giản. River Season là kết quả của nhiều năm nghiên cứu tại studio.”
Một câu nói khôn ngoan. Nó không phủ nhận việc Phương Anh đã làm gì, chỉ lặng lẽ kéo mọi thứ vào một đám mây mù mang tên “nhiều năm”. Đọc xong, cô muốn đăng thẳng bộ rập lên mạng cho thiên hạ tự so. Luật sư chặn lại ngay.
“Nếu đưa toàn bộ cấu trúc dựng ra công khai, cô đang tự phát tán chính thứ mà cô nói là có giá trị thương mại.”
“Vậy tôi nói gì?”
“Nói đúng phạm vi.”
Phương Anh viết đi viết lại ba lần, xóa những chữ nghe như tiếng hét. Cuối cùng cô đăng một đoạn ngắn: “Tôi không tuyên bố sở hữu cảm hứng về sông nước, phù sa, chất liệu văn hóa hay những kỹ thuật tôi từng được học. Tôi đang yêu cầu xác nhận quyền tác giả với những thiết kế và bộ rập cụ thể có quá trình phát triển độc lập, cùng ghi công đúng cho những người thực sự tham gia.” Không có chữ “ăn cắp”. Không gọi tên Quân.
Phản ứng chia làm hai. Có người thất vọng vì bài viết không đủ “đanh”, có người bảo cô đang lùi bước. Nhưng ba nhà thiết kế trẻ khác nhắn riêng cho cô, cùng một ý: cảm ơn chị vì đã tách được chuyện được dìu dắt khỏi chuyện quyền tác giả. Phương Anh không chắc mình có muốn trở thành biểu tượng cho cả ngành hay không. Cô chỉ muốn bốn look được gọi đúng tên người làm ra chúng.
Hôm sau, chị Hạnh, thợ rập chính cũ của Quân Couture, đồng ý gặp. Chị không đứng về phía Phương Anh, và nói điều đó ngay khi vừa ngồi xuống.
“Phần viền này studio dạy em.”
“Em biết.”
“Bảng ý tưởng đầu tiên có trong nhiệm vụ studio giao.”
“Em cũng biết.”
“Nhưng bốn bộ rập em đang đòi,” chị Hạnh chậm rãi, “chị chưa từng thấy ở studio trước khi em nghỉ.”
Phương Anh nín thở. “Chị chắc chứ?”
“Chắc, trong phạm vi chị quản lý kho rập. Thế không có nghĩa anh Quân không có bản phác nào ở đâu đó. Chị chỉ nói trong kho không có.”
Luật sư ghi lại nguyên văn câu ấy. “Chị có sổ nhận rập không?”
“Có.”
Kho rập dùng mã nội bộ, và trước ngày Phương Anh nghỉ việc, không hề có bốn cấu trúc đó. Gần năm tháng sau khi cô rời đi, một bản scan rập tương tự mới được nhập vào hệ thống của Quân Couture. Người tải lên là một trợ lý. File gốc từ đâu ra thì chưa ai biết.
Phương Anh nhìn chằm chằm vào dòng dữ liệu. “Đây có phải bằng chứng họ lấy của tôi không?”
Luật sư lắc đầu. “Nó chứng minh một bộ rập tương tự xuất hiện trong hệ thống của họ sau khi cô đã phát triển ở bên ngoài. Còn nó đi vào bằng đường nào thì phải tìm tiếp.”
Luật sư còn yêu cầu kiểm lại thỏa thuận với xưởng nhuộm ở An Giang. Hóa ra hai công thức màu mà Phương Anh vẫn quen miệng gọi là “màu của mình” đã được một nghệ nhân tên Sáu Lễ điều chỉnh tỷ lệ rất nhiều lần, sau khi mẫu ban đầu của cô lên màu không ổn định.
“Vậy ghi công thế nào?” cô hỏi.
“Nếu phần màu là cùng phát triển, thì ghi đúng như vậy.”
“Kể cả khi ý tưởng ban đầu là của tôi?”
“Ý tưởng về một màu và công thức làm ra màu đó không nhất thiết của cùng một người.”
Chiều hôm đó, Phương Anh gọi cho Sáu Lễ. Ông cười khà khà qua điện thoại, giọng miền Tây chậm rãi: “Miễn đừng ghi chú Sáu Lễ là ‘phụ nhuộm’ là được. Chú chỉnh cho con sáu lần đó nghen.”
Phương Anh bật cười, lần đầu tiên sau nhiều ngày. “Con ghi ‘Phát triển màu vải: xưởng Sáu Lễ’ nhé chú?”
“Nghe được đó.”
Thêm một phần của bộ sưu tập được đặt đúng tên. Lại thêm một dòng chưa đủ để thắng ngay. Nhưng cô bắt đầu thích cách vụ việc ngày càng trở nên chính xác.
Tối đó, Bảo Ngọc ngồi bó gối trên sofa của studio, hỏi khẽ: “Nếu cuối cùng hội đồng nói phần ý tưởng có công của Quân, chị có chịu không?”
Phương Anh nhìn bộ mẫu trên ma-nơ-canh, những nếp gấp màu đất nằm im dưới ánh đèn. “Nếu đúng thì chịu.”
“Không thấy như bị mất à?”
“Có chứ,” cô đáp. “Nhưng nếu chị đòi công bằng cho mình bằng cách xóa công của người khác, thì chị đang làm đúng cái điều chị ghét nhất.”