Chương 4 / 9 ◆ ~8 phút đọc

Chương 4: Ca Tham Vấn Đầu Tiên Có Supervisor Và Giới Hạn Bảo Mật

Ca trẻ em đầu tiên Minh trực tiếp theo dõi không diễn ra trong căn phòng trọ chật chội của anh. Nó diễn ra trong một phòng tham vấn của đơn vị, cửa cách âm vừa đủ, có camera nội bộ chỉ dùng cho mục đích giám sát chuyên môn khi gia đình đã đồng ý, và một tủ hồ sơ luôn khóa.

Lúc ấy Minh chưa được làm việc độc lập hoàn toàn. Tiến sĩ Phan Thu Hà là người giám sát của anh. Nguyễn Hương, nhân viên công tác xã hội, phụ trách phối hợp với nhà trường và gia đình khi cần.

Thân chủ là một bé gái mười hai tuổi, trong hồ sơ được đổi tên thành An. Mẹ đưa em tới vì An không chịu đi học sau nhiều tháng bị bạn cùng lớp chế giễu ngoại hình và cô lập.

Trước buổi đầu tiên, phòng tham vấn giải thích với mẹ An từng điều một: sự đồng ý của người giám hộ, sự chấp thuận của chính đứa trẻ, nguyên tắc bảo mật và những giới hạn của nó khi có nguy cơ về an toàn hay dấu hiệu bị xâm hại, cách lưu trữ dữ liệu, chi phí, quy định hủy lịch và số liên lạc khẩn cấp. Minh thấy mọi thứ giấy tờ hơn rất nhiều so với ký ức của anh về cô Tâm năm nào.

“Trẻ cần biết không phải cứ kể gì thì mình cũng giữ kín bằng mọi giá,” Hà nói. “Nếu có nguy cơ về an toàn, mình phải hành động.”

An ngồi thu mình trên ghế, hai tay ôm chặt chiếc ba lô. Minh không mở đầu bằng câu “anh cũng từng bị bắt nạt”. Anh hỏi: “Em muốn mẹ ở lại, hay ra ngoài vài phút đầu?”

An liếc mẹ. “Mẹ ra ngoài.”

Minh xác nhận lại với mẹ em theo đúng quy trình rồi mới tiếp tục. “Em có biết hôm nay tới đây để làm gì không?”

“Mẹ bắt đi.”

“Em có muốn nói gì không?”

An lắc đầu. Trong khoảnh khắc ấy, Minh cảm thấy một thôi thúc rất mạnh muốn kể chuyện của mình, muốn nói “Anh hiểu mà, anh từng bị gọi là đồ không ai nhận”. Anh giữ câu đó lại.

Buổi đầu chỉ tập trung tạo cảm giác an toàn, xây dựng sự tin cậy và đánh giá những điều cơ bản: giấc ngủ, việc đi học, ăn uống, tâm trạng, những cơn đau đầu đau bụng không rõ nguyên nhân, những người em có thể dựa vào, bối cảnh bị bắt nạt, và những câu hỏi về nguy cơ khi cần thiết. Anh không hỏi chi tiết về tổn thương chỉ vì người trị liệu tò mò.

Gần cuối buổi, An mới nói một câu: “Em ghét trường.”

“Điều gì ở trường khó nhất với em?”

“Giờ ra chơi.”

Minh ghi lại. Anh không vội kết luận đây là lo âu xã hội, cũng không chẩn đoán gì.

Sau buổi đó, anh vào phòng giám sát. Hà hỏi: “Em đang cảm thấy gì?”

“Giận mấy đứa bắt nạt.”

“Còn gì nữa?”

“Em muốn nói với An rằng em ấy không có lỗi.”

“Câu đó có thể hữu ích. Nhưng em muốn nói vì An cần nghe, hay vì em cần nói với cậu bé Minh ngày xưa?”

Minh lặng người. Đó là phản chuyển di, những cảm xúc từ đời mình tràn vào mối quan hệ với thân chủ. Không có gì đáng xấu hổ, nhưng anh cần nhận ra nó.

Qua vài buổi, bức tranh về An dần rõ hơn. Bắt nạt là trung tâm, nhưng không phải tất cả. Trong nhà, em và bố mẹ thường xuyên căng thẳng chuyện điểm số. Em ngủ kém, tránh né một số nơi và đánh giá bản thân rất thấp. Không có một “câu nói chữa lành” nào giải quyết được chừng ấy thứ.

Kế hoạch hỗ trợ vì thế gồm nhiều phần: giúp An và gia đình hiểu điều đang xảy ra, tập cho em những cách điều hòa cảm xúc hợp với lứa tuổi, làm việc với suy nghĩ ở mức em theo được, đưa em quay lại trường từng bước, có những buổi riêng với bố mẹ, phối hợp với nhà trường trong phạm vi gia đình đồng ý, và theo dõi an toàn. Nếu triệu chứng hay nguy cơ vượt quá khả năng của phòng, sẽ chuyển tới nơi phù hợp.

Hương liên hệ với giáo viên tham vấn của trường khi đã có sự đồng ý. Chị không gửi toàn bộ ghi chép trị liệu, chỉ chia sẻ những gì cần để xử lý chuyện bắt nạt và hỗ trợ an toàn cho An. Phía nhà trường lúc đầu nói: “Trẻ con trêu nhau thôi mà.” Hương đề nghị họ ghi nhận cụ thể từng vụ việc và đưa ra biện pháp chống bắt nạt rõ ràng. Một buổi họp phụ huynh được tổ chức, và Minh chỉ tham gia phần cần thiết. Người trị liệu không tới trường để mắng giáo viên.

Vài tuần sau, An đi học đều hơn. Nhưng con đường không thẳng. Có ngày em ổn, rồi tuần sau xảy ra một vụ mới, em lại nghỉ hai hôm. Minh thất vọng ra mặt. “Em cứ tưởng mình đang tiến lên.”

“Tiến lên không có nghĩa là triệu chứng giảm đều mỗi tuần,” Hà đáp.

Minh học cách dùng các thang đo kết quả như một nguồn thông tin, chứ không tôn thờ con số. Anh nhìn cùng lúc nhiều thứ: số buổi An đến lớp, mức độ căng thẳng em tự đánh giá, khả năng sinh hoạt hằng ngày, tiến độ của các mục tiêu, nhận xét của mẹ em và quan sát của chính mình. Không một chỉ số nào được tự quyết định tất cả.

Đến tháng thứ ba, An nói: “Em đi căn tin được rồi.”

Minh thấy sống mũi cay cay. Anh không nói “anh đã cứu em”. Anh hỏi: “Điều gì giúp em làm được vậy?”

An kể: có một bạn mới chịu ngồi cùng, giờ ra chơi có giáo viên trông, mẹ bớt hỏi điểm, mấy bài tập bình tĩnh ở phòng tham vấn, và em biết phải tìm cô tham vấn của trường ở đâu. Nhiều thứ cùng giúp em. Trị liệu chỉ là một phần trong đó.

Phòng tham vấn còn cùng An và mẹ xem lại việc giãn buổi hoặc kết thúc, thay vì để người trị liệu tự quyết một chiều. Các mục tiêu được rà lại, những chỗ dựa ngoài trị liệu được xác nhận, và gia đình biết khi nào nên quay lại. Kết thúc cũng là một phần của can thiệp, không phải hết lịch là dừng. Việc chia sẻ thông tin với trường cũng được xem lại định kỳ, để không vượt quá mức cần thiết khi tình hình đã khác.

Buổi kết thúc không có cảnh ôm nhau khóc. Minh giải thích rằng nếu cần, An có thể quay lại; nếu nguy cơ tăng lên, gia đình biết phải liên hệ với ai và dịch vụ khẩn cấp nào. Anh không để em có cảm giác anh là người duy nhất em có thể dựa vào.

Ca của An còn dạy Minh một điều về hồ sơ. Ghi chép trị liệu không phải nhật ký cảm xúc của người trị liệu. Những ý nghĩ như “ca này làm mình nhớ tuổi thơ” thuộc về buổi giám sát hay sổ suy ngẫm riêng, không nên đổ vào hồ sơ của trẻ nếu không phục vụ việc chăm sóc. Hồ sơ cần đủ để người khác hiểu tính liên tục, nguy cơ, cách nhìn nhận ca, các can thiệp và quyết định đã đưa ra. Khi An chuyển sang theo dõi thưa hơn, một đồng nghiệp khác có thể đọc hồ sơ và nắm được kế hoạch mà không cần tìm Minh để hỏi “em ấy từng kể gì”. Đó là một tiêu chuẩn trước đây anh chưa từng nghĩ tới.

Sau ca này, Minh viết bài tự suy ngẫm nộp cho buổi giám sát: “Trải nghiệm của bản thân giúp tôi nhận ra sự xấu hổ rất nhanh. Nó cũng khiến tôi muốn giải cứu.”

Hà ghi bên lề: “Giữ cả hai câu.”

Minh giữ cả hai. Ca đầu tiên không chứng minh anh có “thiên phú chữa lành”. Nó chứng minh anh cần một đội ngũ, cần giám sát chuyên môn, cần sự phối hợp giữa trường và gia đình, cần những ranh giới, để hỗ trợ một đứa trẻ mà không biến quá khứ của mình thành phương pháp điều trị.

Đã đọc xong

Chương 4 / 9

Câu chuyện vẫn còn phía trước.

Đọc chương tiếp
Home Trước Sau
Đọc tiếp chỗ đang dở? Bạn đã đọc một phần chương này.
Cài đặt Đọc truyện
Cỡ chữ
Giãn dòng
Độ rộng trang đọc
Kiểu Chữ
Phông Nền
💬 Bình luận đoạn
Đang tải bình luận...