Chương 6: Khi Trịnh Quang Vinh Quỳ Bên Chum Chượp
Ba tuần sau buổi đối chất, dự án nước mắm truyền thống của Bùi Khánh Toàn không còn chỉ nằm trên giấy. Bản thỏa thuận khung với chuỗi đặc sản Việt được đem ra rà lần cuối trong một buổi gặp nhỏ ở văn phòng Lý Thái Tổ, không phông nền lòe loẹt, không diễn văn. Chỉ có những người đã thức trắng trong đêm khủng hoảng ngồi quanh chiếc bàn dài, trước mặt là mấy tách cà phê nguội.
Phạm An Khuê vẫn giữ thói quen soi từng điều khoản. Cô bắt Bùi Khánh Toàn sửa một dòng về quyền sử dụng tên nhà thùng vì cách viết cũ có thể sinh tranh chấp sau này. Anh cười, ký lại không phàn nàn. Sự đồng hành giữa họ lớn lên từ những bản sao kê, biên bản và những đêm mưa, nên nó bền hơn vài lời tỏ tình nói vội trước ống kính.
Buổi chiều, họ quay lại căn nhà thùng phố cổ trên Hàng Bạc. Nơi từng đẩy anh ra cửa phụ giờ treo tấm bảng thông báo của chuỗi đặc sản Việt: tạm dừng hợp tác với công ty của Trịnh Quang Vinh, sáu chiếc thùng gỗ bời lời sẽ được trả về nhà thùng Bùi Gia. Cô lễ tân nhận ra Bùi Khánh Toàn, cúi chào thấp đến mức tóc rủ xuống trước mặt.
Anh không làm khó cô. Cô chỉ là người đứng quầy, hôm đó cũng chỉ làm theo lệnh. Anh đi một vòng quanh sáu chiếc thùng, đặt tay lên mặt gỗ đã khô vì máy lạnh, nhắc người của chuỗi bọc lại cẩn thận trước khi chở đi. “Gỗ bời lời mà để máy lạnh lâu thì nứt,” anh nói. “Thùng nứt là hỏng cả mẻ chượp sau.”
Hôm sau, anh và Phạm An Khuê bay vào Phú Quốc. Nhà thùng Bùi Gia nằm ở rìa Dương Đông, mái tôn thấp, nền xi măng lúc nào cũng ẩm mùi muối, ba dãy thùng gỗ to cao quá đầu người xếp thẳng hàng. Ông Lộc, thợ cả đã làm với ông nội Toàn từ năm mười bảy tuổi, đứng đón ở cửa, lưng còng, da đen sạm, cánh tay rắn như sợi đai mây.
Ông nhìn Phạm An Khuê từ đầu đến chân rồi hỏi một câu duy nhất: “Cô biết ngửi mắm không?” Cô gật đầu. Ông dẫn cô đến thùng số bảy, mở vòi gỗ dưới đáy cho chảy ra vài giọt vào lòng bàn tay cô. Cô ngửi, rồi nói bằng giọng rất nhỏ: “Thơm hơn chai hôm ở Hà Nội.” Ông Lộc cười móm mém, quay sang Toàn: “Được, người này được.”
Chiều hôm đó, một chiếc xe bảy chỗ màu đen đỗ trước cổng nhà thùng. Trịnh Quang Vinh bước xuống, không vest, không huy hiệu, chiếc áo sơ mi nhàu ở nách. Hắn vừa làm việc với cơ quan chức năng ba buổi liền, đang chờ kết luận. Hợp đồng với chuỗi bị dừng, mấy đơn hàng lớn hắn đã nhận cọc trước vì tin chắc sẽ có mắm ba đời để giao giờ đòi bồi thường. Hắn cần mắm thật, cần ngay, và chỉ nhà thùng này có.
Hắn không chào ai, đi thẳng vào giữa dãy thùng. “Toàn, mình nói chuyện như người làm ăn,” hắn mở lời, giọng cố tỏ ra thân mật. “Bán cho tôi ba mươi thùng chượp, tôi trả gấp đôi. Tôi rút đơn kiện, đăng bài đính chính. Coi như chuyện cũ bỏ qua.”
Bùi Khánh Toàn đứng cạnh thùng số bảy, không trả lời. Ông Lộc thì nhìn Trịnh Quang Vinh bằng ánh mắt của người đã thấy quá nhiều kẻ đến nhà thùng mua tên chứ không mua mắm. “Mắm ba đời không bán chượp cho người dán nhãn mắm sáu tháng,” ông nói. “Cậu Vinh, cậu về đi.”
Mặt Trịnh Quang Vinh co giật. Hắn nhìn quanh: không có phóng viên, không có đối tác, chỉ có mùi muối, tiếng ruồi vo ve và mấy chục chiếc thùng gỗ im lặng như những ông già ngồi xem. Rồi hắn làm một việc mà ba tuần trước không ai tin được. Hắn khuỵu xuống, quỳ trên nền xi măng ướt ngay cạnh chum chượp, hai tay chống xuống vũng nước muối.
“Tôi xin anh,” hắn nói, giọng vỡ ra. “Tôi mà không giao được hàng thì mất hết. Anh muốn tôi xin lỗi công khai cũng được.”
Không ai nói gì trong một lúc lâu. Phạm An Khuê đứng sau lưng Toàn, không rút điện thoại ra quay, cũng không nhìn đi chỗ khác. Bùi Khánh Toàn cúi nhìn người đàn ông từng nghiền USB dưới gót giày, giờ đầu gối quần đã thấm nước muối loang thành vệt sẫm.
“Anh đứng dậy đi,” cuối cùng anh nói. “Tôi không cần anh quỳ. Tôi cần anh khai thật với cơ quan điều tra và trả lại cho người tiêu dùng cái tên mà anh dán sai. Mắm ở đây không bán cho anh, không phải vì tôi hận, mà vì nó không được phép đi qua tay người đã từng làm giả nó.” Anh quay lưng, đóng vòi thùng số bảy lại.
Trịnh Quang Vinh lồm cồm đứng dậy, không ai đỡ. Hắn đi ra xe mà không nói thêm câu nào, để lại hai vệt ướt trên nền xi măng. Ông Lộc lấy gáo múc nước ngọt dội sạch chỗ ấy, lẩm bẩm rằng nhà thùng phải sạch thì mắm mới sạch.
Đêm ấy, Bùi Khánh Toàn và Phạm An Khuê ngồi trên sân thượng nhà thùng, nhìn ra biển tối. Gió mang mùi muối và mùi chượp lên tận mái tôn. Không có đám đông, không có máy quay, chỉ có tiếng sóng và tiếng quạt máy ọp ẹp dưới nhà. Cô hỏi nếu ngày đầu cô không gọi điện, anh sẽ làm gì. Anh nghĩ một lúc rồi đáp rằng anh vẫn đi tiếp, nhưng có lẽ sẽ lâu hơn, lạnh hơn, và có thể đã thành một người khác. Cô không nói gì thêm, chỉ kéo chiếc ghế nhựa lại gần anh thêm một chút.
Sáng hôm sau, Phạm An Khuê đem chiếc gáo dừa cũ của ông Lộc, chiếc gáo ông dùng hơn bốn mươi năm để múc thử mắm, treo lên cây cột trước cửa nhà thùng. Ông bảo cô treo làm gì, cô bảo để khách đến biết nhà này múc mắm bằng tay chứ không bằng diễn văn. Bùi Khánh Toàn không coi nó là đồ trang trí. Nó là lời nhắc rằng bí phương sống được nhờ bàn tay người giữ nghề, không nhờ những bài phát biểu bóng bẩy.
Về lại Hà Nội, Nguyễn Thùy Dung hẹn gặp Bùi Khánh Toàn một lần ở quán cà phê nhỏ trên Tạ Hiện. Trời mưa lâm thâm. Cô xin lỗi, nói mình bị tham vọng che mắt, nói đêm nào cũng mơ thấy cảnh anh bị lôi ra cửa. Bùi Khánh Toàn nghe hết. Anh không ném vào cô một lời cay độc nào, cũng không nhặt lại thứ tình cảm đã mục. Anh đặt tiền hai ly cà phê lên bàn. “Tôi chúc cô sau này biết xấu hổ sớm hơn,” anh nói, rồi đứng dậy. Đó là dấu chấm hết, nhẹ nhưng đau.
Lễ ký thỏa thuận khung diễn ra một tuần sau, gọn gàng trong phòng họp nhỏ của chuỗi đặc sản Việt. Bùi Khánh Toàn cảm ơn đội ngũ và những người đã kiểm tra anh đến cùng. Anh nói thất bại đáng sợ nhất không phải bị đuổi khỏi một căn phòng, mà là để kẻ xấu định nghĩa mình bằng tiếng ồn của chúng. Ở hàng ghế đầu, Phạm An Khuê mỉm cười, lần hiếm hoi cô cười trước mặt người lạ.
Một nhân viên trẻ của chuỗi hỏi anh bí quyết lật kèo là gì. Bùi Khánh Toàn nhìn tập hồ sơ trên tay cậu ta. “Đừng đợi đến lúc bị vu oan mới sống sạch,” anh đáp. “Và nếu đã sống sạch, hãy lưu bằng chứng cẩn thận đến mức kẻ bẩn phải run trước khi mở miệng.”
Trong buổi họp nội bộ sau đó, anh đề nghị lập một quỹ pháp lý cho nhân viên dám tố cáo sai phạm. Anh nói không ai trong đội phải đơn độc như anh từng đơn độc. Vài người cúi đầu rất lâu. Họ hiểu thắng thật sự không chỉ là giành được tiền, mà là tạo ra một nơi kẻ xấu khó bắt nạt người ngay.
Phạm An Khuê đề nghị ghi tên toàn bộ nhóm kỹ thuật, vận hành và cả ông Lộc vào phần tri ân của dự án. Bùi Khánh Toàn đồng ý ngay. Anh quá hiểu cảm giác bị xóa tên khỏi công sức của mình. Khi cầm bút ký bản phân chia thưởng, anh ký chậm, từng nét như đặt công bằng trở lại đúng chỗ.
Ở một góc khác của thành phố, Trịnh Quang Vinh xem đoạn tin về lễ ký trên màn hình điện thoại. Đầu gối hắn vẫn đau âm ỉ, chỗ da chạm nền xi măng nhà thùng còn rát vì muối. Mỗi lần phóng viên nhắc đến sổ ủ chượp ba đời, mặt hắn lại tái đi. Có những hình phạt không cần tiếng la, chỉ cần kẻ từng ngạo mạn phải sống lâu với ký ức mình đã quỳ như thế nào.
Nhưng hắn chưa chịu sống với ký ức ấy. Hắn mở danh bạ, kéo xuống một cái tên đã lâu không gọi: người thủ kho giữ sổ nhập muối của công ty, người duy nhất biết rõ những trang sổ nào từng bị viết lại.