Chương 4 / 8 ◆ ~8 phút đọc

Chương 4: Bằng sáng chế hẹp hơn nhưng thật hơn

Ngày phòng chuyển giao công nghệ mời chúng tôi lên bàn chuyện bằng sáng chế, tôi lại thấy con số chín mươi bảy phần trăm xuất hiện. Không phải trong dữ liệu, mà trong bản nháp hồ sơ, ngay câu đầu tiên: “Vật liệu polymer composite có khả năng tự phục hồi gần hoàn toàn sau tổn thương cơ học.”

“Ai viết chữ 'gần hoàn toàn' vậy chị?” tôi hỏi.

Chị Hà ở phòng sở hữu trí tuệ đáp: “Bên luật sư sáng chế viết, dựa trên mẫu tốt nhất trong hồ sơ nghiên cứu.”

“Mẫu 1372 chưa được tái lập ở mức đó.”

“Nhưng nó là một phương án thực hiện có thật.”

“Một outlier trong điều kiện bất thường.”

“Trung.” Chị Hà kéo tập hồ sơ về phía mình. “Bằng sáng chế không phải bài báo. Mục tiêu là bảo hộ phạm vi rộng nhất có thể trước khi công bố.”

Tôi hiểu logic đó. Nếu yêu cầu bảo hộ quá hẹp, vài năm sau một công ty chỉ cần đổi chút tỷ lệ hay điều kiện là lách qua được. Yêu cầu bảo hộ rộng thì tài sản trí tuệ trông có giá hơn. Nhưng sau ba tháng sống cùng mẫu 1372, tôi đã bắt đầu sợ những câu chữ rộng hơn dữ liệu.

“Bảo hộ rộng không có nghĩa là mô tả rộng quá những gì mình làm được,” tôi nói.

Luật sư sáng chế là anh Long, một người từng học hóa vật liệu trước khi chuyển sang luật. Anh chậm rãi lên tiếng: “Không ai đề nghị bịa cả. Mình hoàn toàn có thể yêu cầu bảo hộ một họ công thức và cơ chế tự sửa có hỗ trợ của độ ẩm, với khoảng đủ rộng, còn mẫu 1372 chỉ là một ví dụ trong đó. Vấn đề nằm ở chữ 'gần hoàn toàn'.” Anh gật đầu. “Chữ đó bỏ.”

Chị Hà quay sang nhìn anh. “Bỏ thì lúc chào bán bản quyền sẽ kém hấp dẫn đi.”

“Bài chào bán không phải là yêu cầu bảo hộ,” Long nói. “Nếu muốn hồ sơ đứng vững lâu dài, đừng đặt tính từ quảng cáo vào chỗ mà thẩm định viên sẽ đòi dữ liệu chứng minh.”

Tôi quý anh ngay lập tức.

Chúng tôi sửa tiêu đề thành một câu rất chán: “Hệ polymer composite có khả năng phục hồi cơ học được hỗ trợ bởi độ ẩm trong các điều kiện xác định.” Tùng đọc xong thì rên lên.

“Chẳng ai bấm vào đọc đâu.”

“Bằng sáng chế đâu cần ai bấm vào.”

“Nhưng startup thì cần.”

“Chưa có startup nào cả.”

“Anh thiếu tham vọng.”

“Còn em thì thừa.”

Cuộc tranh luận về phạm vi bảo hộ kéo dài hai tuần. Chúng tôi phải quay lại từng bộ dữ liệu để xem mình thực sự chứng minh được điều gì: tỷ lệ thành phần, khoảng độ ẩm, loại tổn thương, thời gian tiếp xúc, giới hạn độ dày, phương pháp đưa hai bề mặt về tiếp xúc. Có những thứ tôi từng gọi là “chi tiết thực nghiệm vặt vãnh”, giờ lại quyết định một câu có được đưa vào yêu cầu bảo hộ hay không. Phạm vi cứ hẹp dần. Tôi vừa tiếc, vừa thấy nhẹ nhõm.

Rồi đến phần tên tác giả sáng chế. Bản nháp đầu liệt kê: GS Bùi Quốc Đạt, TS Võ Đức Trung, NCS Lê Thanh Tùng. Thầy Đạt nhìn danh sách rồi hỏi: “Tên tôi ở đây dựa trên đóng góp gì?”

Chị Hà ngạc nhiên. “Thầy là trưởng nhóm.”

“Trưởng nhóm không phải là mô tả đóng góp vào sáng chế.”

“Thầy định hướng dự án mà.”

“Định hướng có phải là ý tưởng sáng chế cụ thể trong yêu cầu bảo hộ không?”

Cả phòng im lặng. Tôi từng nghĩ chuyện tranh giành bằng sáng chế lúc nào cũng có một vị giáo sư cố nhét tên mình vào. Thực tế phức tạp hơn thế. Ở nhiều phòng thí nghiệm, người ta thêm tên người có thâm niên vì thói quen, vì quyền lực, vì kinh phí, hoặc đơn giản vì không ai muốn tranh cãi. Chẳng cần ai thức đêm photocopy sổ tay của người khác. Chỉ cần một biểu mẫu được điền theo thứ tự mặc định.

“Tác giả bài báo và tác giả sáng chế không phải cùng một danh sách,” Long nói. “Ta cần đối chiếu từng ý tưởng trong yêu cầu bảo hộ với người đã đóng góp vào nó.”

Chúng tôi lập một bảng. Công thức nền và ý tưởng mạng liên kết thuận nghịch: tôi. Thiết kế ma trận độ ẩm: tôi, với thầy Đạt góp ý về hướng thử, nhưng phải xem lại yêu cầu bảo hộ kỹ thuật cụ thể. Phát hiện vai trò của tiếp xúc bề mặt và chuẩn hóa đồ gá: Tùng đóng góp trực tiếp. Quy trình ổn định mẫu để tách hiệu ứng hóa dẻo khỏi phục hồi thật: Phương, kỹ thuật viên, là người đề xuất và phát triển một phần rất quan trọng. Thế nhưng Phương lại không có tên trong bản nháp ban đầu.

“Phương là kỹ thuật viên mà,” chị Hà nói.

“Chức danh thì ảnh hưởng gì?” Long hỏi lại. Không ai trả lời.

Phương được mời vào phòng họp. Chị tưởng mình bị gọi lên vì máy móc có lỗi. Khi nghe chuyện, chị chỉ nói: “Tôi chỉ sửa quy trình thử thôi mà.”

“Nếu không sửa, yêu cầu bảo hộ về phục hồi cơ học có đứng được không chị?” tôi hỏi.

“Chắc là không.”

“Chị có đề xuất cân bằng trạng thái ẩm của mẫu trước khi thử không?”

“Có.”

Long ghi lại. Chúng tôi không tự kết luận chuyện pháp lý bằng cảm tính, luật sư rà soát cụ thể từng đóng góp một. Danh sách tác giả sáng chế cuối cùng không giống với thứ bậc trong phòng thí nghiệm. Thầy Đạt tự rút tên khỏi một số yêu cầu bảo hộ, vì đóng góp của ông thuộc về hướng dẫn và thảo luận giả thuyết, chưa đủ trực tiếp để thành ý tưởng sáng chế theo đánh giá của luật sư. Phương được ghi tên ở phần phù hợp. Tùng có tên. Tôi có tên. Không ai “nhường” vinh dự cho ai. Chúng tôi chỉ cố làm sao để danh sách phản ánh đúng công việc thật.

“Bằng sáng chế không phải danh sách những người có chức vụ cao,” thầy Đạt nói.

Chị Hà nhìn ông. “Thầy có biết câu này làm nhiều trưởng nhóm ghét thầy không?”

“Tôi đủ tuổi để bị ghét rồi.”

Chúng tôi nộp hồ sơ trước khi bài báo được công bố, đúng lịch đã thống nhất. Không thông cáo báo chí, không có chữ “gần hoàn toàn”, không có ảnh mẫu 1372 trên trang trình chiếu đầu tiên.

Vài tháng sau, phòng chuyển giao mời một công ty vật liệu đến nghe giới thiệu. Vị CEO lật bộ slide, hỏi ngay: “Sao độ phục hồi chỉ ở mức này? Tôi nghe nói ban đầu gần một trăm phần trăm.”

“Vì gần một trăm phần trăm là một mẫu không mang tính đại diện,” tôi đáp.

“Anh đang tự hạ giá công nghệ của mình à?”

“Tôi đang mô tả đúng thứ anh sẽ mua.”

Ông lật tiếp. “Ứng dụng là gì?”

“Môi trường ẩm, tổn thương nông, hai bề mặt vẫn còn tiếp xúc. Không dành cho những hư hỏng kết cấu nghiêm trọng.”

“Vỏ máy bay?”

“Không.”

Ông cười. “Báo chí thích máy bay lắm.”

“Báo chí chưa viết gì cả.”

“Vậy thì tốt.” Ông gập bộ slide lại. “Công nghệ này hẹp hơn tôi tưởng.”

Tôi thấy bụng mình chùng xuống. Rồi ông nói tiếp: “Nhưng ít ra tôi biết nó hẹp ở đâu.”

Công ty ấy không ký hợp đồng triệu đô. Họ đề nghị một đợt thí điểm nhỏ, dùng làm lớp phủ bảo vệ hộp cảm biến trong môi trường độ ẩm cao. Không ai trong phòng reo hò.

“Từ giải Nobel xuống hộp cảm biến,” Tùng nói.

“Anh có bao giờ có giải Nobel đâu.”

“Trong đầu anh thì có.”

“Ừ, đúng.”

Tôi nhìn bản bằng sáng chế cuối cùng. Nó hẹp hơn nhiều so với giấc mơ đêm mẫu 1372. Nhưng với từng câu trong đó, tôi đều có thể chỉ vào dữ liệu và nói: phần này, chúng tôi đã làm được. Với tôi, đó là lúc tấm bằng sáng chế bắt đầu có giá trị thật.

Đã đọc xong

Chương 4 / 8

Câu chuyện vẫn còn phía trước.

Đọc chương tiếp
Home Trước Sau
Đọc tiếp chỗ đang dở? Bạn đã đọc một phần chương này.
Cài đặt Đọc truyện
Cỡ chữ
Giãn dòng
Độ rộng trang đọc
Kiểu Chữ
Phông Nền
💬 Bình luận đoạn
Đang tải bình luận...