Chương 5: Đối tác công nghiệp không cần phép màu
Công ty làm thí điểm tên là Đông Hải Sensors. Họ sản xuất hộp bảo vệ cảm biến cho kho lạnh, nhà máy thực phẩm và một số trạm quan trắc ngoài trời có độ ẩm cao. Không máy bay, không stent tim, cũng chẳng có gì “thay đổi nền công nghiệp thế giới”.
Giám đốc kỹ thuật của họ, anh Lâm, mở đầu buổi họp bằng một câu khiến tôi rất thích: “Tôi không cần vật liệu tự lành.” Tùng quay sang nhìn tôi, ánh mắt như muốn hỏi vậy mình tới đây làm gì. Lâm nói tiếp: “Tôi cần một lớp phủ bị trầy nhẹ trong lúc lắp đặt mà vẫn làm chậm được vết nứt bề mặt lan ra, hoặc khép lại một phần khi làm việc trong môi trường ẩm. Nếu công nghệ của các anh làm được việc đó một cách ổn định, tôi mua. Nếu nó chỉ đẹp dưới kính hiển vi, tôi không mua.”
Đó là người đầu tiên nói về công nghệ của tôi mà không bị mê hoặc bởi hai chữ “tự lành”. Tôi mở trang trình chiếu về hạn chế trước cả trang ưu điểm. Độ ẩm cao hỗ trợ quá trình tự sửa. Tổn thương phải nông. Hai bề mặt phải còn khả năng tiếp xúc. Vật liệu không tái tạo được phần đã mất. Không dùng cho bộ phận chịu tải quan trọng về an toàn. Chưa đủ dữ liệu về tia UV dài hạn. Tạp bẩn có thể cản trở bề mặt tiếp xúc. Số chu kỳ chịu tổn thương lặp lại chưa xác định rõ.
Lâm gật đầu. “Tốt.”
Sau buổi họp, Tùng hỏi: “Anh ấy nghe hết đống hạn chế mà vẫn làm thí điểm à?”
“Vì trường hợp ứng dụng của họ nằm đúng chỗ mình làm được,” tôi đáp. Một cảm giác mới mẻ.
Đợt thí điểm có ba nhóm hộp cảm biến: lớp phủ thương mại đang dùng, lớp phủ polymer nền chưa có mạng tự sửa, và lớp phủ mới của chúng tôi. Đông Hải tự tạo vết xước bằng đồ gá của họ chứ không dùng đồ gá của phòng tôi, vì họ muốn thử đúng kiểu vết xước thường gặp khi lắp đặt. Một nửa số mẫu đặt trong kho lạnh ẩm, một phần ở khu rửa công nghiệp, phần còn lại để ngoài trời có nắng để xem giới hạn.
Tôi đề nghị thêm mẫu sạch và mẫu có dính chút bụi, dầu.
“Làm bẩn để làm gì?” Lâm hỏi.
“Bề mặt ngoài thực tế đâu có sạch như trong phòng thí nghiệm.”
Anh cười. “Cuối cùng anh cũng biết rồi đấy.” Tôi nhận câu chọc ấy mà không cãi.
Tuần đầu, kho lạnh cho kết quả tốt. Vết xước nông trên lớp phủ mới khép lại đáng kể hơn mẫu đối chứng. Không trở về như mới, nhưng hình thái bề mặt được cải thiện, và thử nghiệm thấm nước sau khi tự sửa cho kết quả tốt hơn nhóm polymer nền trong phạm vi thí điểm. Tôi vui.
Đến ngày thứ mười bốn, khu rửa công nghiệp cho kết quả xấu hơn. Một số bề mặt dính cặn chất tẩy rửa, và khả năng tự sửa giảm rõ.
“Vậy là tạp bẩn chặn mất tiếp xúc,” Tùng nói.
“Có thể.”
“Đừng khẳng định cơ chế sớm thế,” Phương chỉnh.
Tùng thở dài. “Giờ chị Phương nói y hệt thầy Đạt.”
“Tốt.”
“Cả phòng bị lây hết rồi.”
Nhóm để ngoài trời mới thật sự đáng lo. Sau vài tuần dưới tia UV và các chu kỳ nóng lạnh, lớp phủ mới ngả vàng nhẹ và khả năng tự sửa giảm. Không đến mức thảm họa, nhưng đủ để Đông Hải loại bỏ ứng dụng ngoài trời. Lâm gửi email, ngắn gọn: “Trong nhà, môi trường ẩm: tiếp tục. Ngoài trời có UV: dừng với công thức hiện tại.”
Tôi đọc chữ “dừng” mà thấy khó chịu. Ngày trước, có lẽ tôi đã đề nghị thêm chất chống oxy hóa, chất ổn định UV rồi kéo dài đợt thí điểm. Lần này, tôi hỏi: “Ứng dụng ngoài trời có đủ giá trị để sửa công thức ngay không anh?”
“Không phải ưu tiên,” Lâm đáp. “Kho lạnh mới là chỗ chúng tôi đau đầu thật.”
Tôi hiểu. Bộ phận nghiên cứu phát triển rất dễ bị cuốn vào việc sửa mọi hạn chế, chỉ để sản phẩm trông như dùng được ở mọi nơi. Một doanh nghiệp tốt đôi khi làm ngược lại: chọn một chỗ đau đủ lớn, làm thật tốt ở đó, và không biến mọi điểm yếu thành một dự án mới.
Sau hai tháng, Đông Hải yêu cầu thử vết xước lặp lại ở cùng một vị trí: một lần, hai lần, ba lần, năm lần. Khả năng tự sửa giảm dần theo số chu kỳ. Chẳng có gì bất ngờ, mạng liên kết nào cũng có giới hạn. Một số mẫu đến chu kỳ thứ tư gần như không còn lợi thế đáng kể.
Bộ phận tiếp thị của Đông Hải đề nghị: “Mình gọi là 'tự sửa nhiều chu kỳ' được không?”
Tôi và Lâm cùng đồng thanh: “Không.” Hai chúng tôi nhìn nhau rồi bật cười.
Kết thúc thí điểm, thông số thương mại được viết thế này: “Lớp phủ polymer có khả năng hỗ trợ phục hồi một phần tổn thương bề mặt nông dưới điều kiện ẩm xác định, nhằm duy trì hàng rào bảo vệ trong các ứng dụng trong nhà đã được kiểm chứng.” Không có chữ “tự chữa gần hoàn toàn”, không “vĩnh viễn”, không “mọi môi trường”. Đội bán hàng của Đông Hải ghét câu này. Lâm thì nói: “Khách hàng kỹ thuật của tôi lại thích.”
Họ ký hợp đồng cấp phép thí điểm theo sản lượng nhỏ. Số tiền không đủ biến ai thành triệu phú. Viện nhận phí, nhóm được chia phần theo quy chế, đủ để mua thêm thiết bị, tài trợ một nghiên cứu sinh và tiếp tục thử nghiệm lão hóa.
Tôi gọi điện cho mẹ. “Mẹ ơi, công nghệ của con bán được rồi.”
“Bao nhiêu tỷ?”
“Không nhiều vậy đâu mẹ.”
“Rứa bán làm chi?”
Tôi cười. “Để người ta dùng.”
“Có tốt không?”
“Trong kho lạnh ẩm thì khá.”
“Ngoài nắng thì sao?”
“Chưa được.”
“Rứa thì dặn người ta đừng đem phơi nắng.”
Tôi đứng im. Một năm làm thí điểm, vậy mà mẹ tóm gọn bản thông số kỹ thuật trong đúng một câu. Tôi kể lại cho Lâm, anh cười: “Mời bác vào đội bán hàng đi.”
“Mẹ tôi sẽ hỏi tiền trước.”
“Thế càng hợp.”
Vài tháng sau, Đông Hải gặp một lô lớp phủ có khả năng tự sửa thấp hơn bình thường. Ngày trước, chuyện đó có thể trở thành một cơn hoảng loạn: công nghệ hỏng rồi sao, hợp đồng có đổ bể không, ai đã làm sai? Nhưng vì thông số và quy trình kiểm soát chất lượng đã được xây dựng quanh những biến số chúng tôi học được qua các vòng tái lập, họ biết phải kiểm tra gì: độ ẩm, độ dày, phân bố của polymer nguyên liệu, khâu đóng rắn. Hóa ra lô nguyên liệu bị lệch ở một thông số sát mép tiêu chuẩn. Không gian lận, không phá hoại, chỉ là dao động thật của sản xuất. Chúng tôi siết lại tiêu chuẩn và sửa khâu kiểm soát quy trình.
Một lỗi nhỏ đã không biến thành “bí ẩn”, vì quy trình giờ đã biết phải nhìn vào đâu. Đó là thứ mà ngành công nghiệp mua từ chúng tôi, nhiều không kém gì công thức. Không chỉ là vật liệu, mà là hiểu biết về những điều kiện khiến nó hoạt động và những điều khiến nó thất bại.
Ngày hợp đồng cấp phép chính thức được ký, Đông Hải không tổ chức sự kiện gì lớn. Lâm mang đến phòng thí nghiệm một chiếc hộp cảm biến đã dùng trong đợt thí điểm. Trên bề mặt vẫn còn thấy vết xước mờ, không biến mất, chỉ khép lại bớt.
“Tôi thích cái này hơn mẫu trưng bày quảng cáo,” anh nói.
“Sao vậy anh?”
“Vì nhìn vào là biết sản phẩm đã bị thương thật, và vẫn làm được việc.”
Tôi cầm chiếc hộp trên tay. Mẫu 1372 từng khiến tôi mơ về một vật liệu xóa sạch mọi dấu vết tổn thương. Thực tế cho tôi một lớp phủ chỉ sửa được một phần, trong một môi trường hẹp, được vài chu kỳ. Nhưng nó đã được gắn lên những thiết bị thật. Tôi thấy như vậy đáng giá hơn một tít báo hoàn hảo.