Chương 6: Thí nghiệm thất bại cũng phải được tính là công việc
Tùng suýt không bảo vệ luận án đúng hạn, vì đã dành gần một năm cho các vòng tái lập. Không phải vì cậu làm ít. Mà vì hệ thống đánh giá không biết cách đếm loại việc cậu đã làm.
Hồ sơ nghiên cứu sinh yêu cầu số bài báo, số hội nghị, những đóng góp mới. Không có dòng nào ghi: “Dành tám tháng để chứng minh kết quả đẹp của phòng thí nghiệm mình nhỏ hơn tưởng tượng.”
Tùng đặt tờ biểu mẫu lên bàn thầy Đạt. “Em có một bài tái lập đứng tên đồng tác giả, một bài về cơ chế đang chờ phản biện, và một đống quy trình.”
“Ừ.”
“Hội đồng nói đóng góp chưa đủ tính mới để làm chương chính.”
“Em muốn thế nào?” thầy Đạt hỏi.
“Em muốn họ tính việc tái lập liên phòng thí nghiệm là một đóng góp.”
“Vậy em phải chứng minh nó tạo ra tri thức gì, chứ không chỉ là 'em làm lại'.”
Tùng cau mày. “Em biết.”
“Thế thì viết đi.”
Cậu viết một chương luận án không có phát minh mới hào nhoáng nào. Chương ấy mô tả những biến số bị quy trình bỏ sót, ảnh hưởng của tiếp xúc bề mặt, độ dày, khâu ổn định mẫu, sự chênh lệch giữa các phòng thí nghiệm, và cách quy trình phiên bản hai cải thiện khả năng tái lập. Trong buổi bảo vệ, vẫn có thành viên hội đồng nhận xét: “Đây là phương pháp luận nhiều hơn là tính mới về vật liệu.”
“Dạ,” Tùng đáp. “Nhưng nếu không có phương pháp này, cái tính mới ban đầu của chúng em, tức con số chín mươi bảy phần trăm, không hề tồn tại một cách ổn định.”
Căn phòng lặng đi một chút. Thầy Đạt không chen vào. Trước đó, ông đã nói với tôi: “Nếu tôi phải dùng chức danh để ép hội đồng công nhận, thì chính mình lại làm hỏng bài học.” Tùng phải tự bảo vệ, và cậu làm được. Không xuất sắc đến mức cả phòng đứng dậy vỗ tay, nhưng đủ. Luận án được thông qua, kèm yêu cầu chỉnh sửa.
Ra khỏi phòng bảo vệ, Tùng nói: “Em chưa bao giờ nghĩ thành tựu lớn nhất trong luận án của mình lại là làm cho kết quả của anh xấu đi.”
“Anh cũng chưa bao giờ nghĩ sẽ có ngày cảm ơn em.”
“Anh có cảm ơn đâu.”
“Cảm ơn.”
“Muộn rồi.”
Hai anh em cùng cười.
Từ câu chuyện của Tùng, phòng B7 thay đổi cách ghi nhận công việc. Bảng tính không còn chỉ có ba cột “bài báo, bằng sáng chế, tài trợ”. Chúng tôi thêm vào: dự án tái lập, kết quả thất bại có tài liệu đầy đủ, thẩm định quy trình, quản lý dữ liệu thô, chuyển giao phương pháp sang phòng khác. Không phải thứ nào cũng được tính ngang một bài báo, nhưng chúng không còn bị coi là việc vô hình.
“Nếu chỉ thưởng cho tính mới,” thầy Đạt nói, “thì đừng ngạc nhiên khi ai cũng chạy theo tính mới, và chẳng ai muốn kiểm tra lại những gì người khác đã nói.”
Quy tắc mới bị thử thách chỉ ba tháng sau. Một nghiên cứu sinh năm hai tên Linh đang làm thí nghiệm về lớp phủ dẫn điện. Một mẫu cho độ dẫn điện tăng gần gấp ba sau một bước xử lý mới. Cả nhóm phấn khích, còn Linh thì phấn khích hơn cả tôi đêm mẫu 1372. Cô gửi ảnh vào nhóm chat: “EM NGHĨ EM TÌM RA RỒI!!!”
Nhìn tin nhắn ấy, tôi thấy lại chính mình bốn năm trước. Phản xạ đầu tiên là gõ ngay: “Lặp lại chưa?” Nhưng tôi dừng tay. Tôi không muốn câu đó trở thành một khẩu hiệu lạnh lùng giết chết niềm vui của người khác. Tôi đi xuống phòng thí nghiệm.
“Cho anh xem nào.”
Linh giải thích. Dữ liệu đẹp, tôi chưa thấy lỗi nào ngay.
“Rất đáng để thử lại,” tôi nói.
“Anh thấy nó thật không?”
“Anh thấy nó đủ thú vị để lặp lại.”
“Nếu lặp không ra thì sao ạ?”
“Thì mình có một câu hỏi khác.”
Cô bật cười. “Anh nói giống hệt thầy Đạt.”
Tôi khó chịu mất một giây. Rồi đành chấp nhận tuổi tác.
Lần tái lập đầu tiên không ra. Linh khóc trong phòng thay đồ. Không phải khóc to, chỉ ngồi im, mắt đỏ hoe. Tôi không nói “đừng buồn”, vì buồn là chuyện hợp lý. Tôi ngồi xuống cạnh cô.
“Em muốn bỏ kết quả đầu tiên không?”
“Có.”
“Đừng bỏ.”
“Nhìn nó em bực lắm.”
“Anh hiểu.”
“Vậy giữ lại làm gì ạ?”
“Vì nó có thể chỉ ra chỗ quy trình còn thiếu.”
Chúng tôi làm đúng những gì phòng B7 đã học được: kiểm tra nguyên liệu, nhật ký thiết bị, dữ liệu môi trường, từng bước thao tác của người làm. Cuối cùng phát hiện ra mẫu đẹp của Linh được đo bằng một đầu dò vừa thay đầu tiếp xúc mới. Điện trở tiếp xúc thấp bất thường ở một cấu hình mà quy trình hiệu chuẩn thông thường chưa phát hiện được. Không có vật liệu mới nào cả. Chỉ là lỗi thiết bị.
Linh thất vọng, nhưng cô vẫn viết một ghi chú kỹ thuật nội bộ. Phòng máy sửa lại quy trình kiểm soát chất lượng khi thay đầu dò, và ba nhóm khác tránh được đúng lỗi ấy.
“Việc này có được tính là công việc không?” tôi hỏi Linh.
“Có ạ.”
“Có thành bài báo không?”
“Chắc là không.”
“Vẫn là công việc chứ?”
“Dạ.”
Đó là điều tôi muốn cô tin. Nhưng tin thôi thì không đủ. Đến kỳ đánh giá, chúng tôi thực sự ghi phần thẩm định kỹ thuật ấy vào hồ sơ của cô. Nếu không, mọi câu kiểu “kết quả thất bại cũng quý giá” chỉ là thứ đạo đức rẻ tiền, khi người trẻ vẫn bị chấm điểm theo số bài báo.
Phòng thí nghiệm còn lập một kho lưu các kết quả không thành công. Không phải một nghĩa địa tệp tin đặt tên “cũ”, mà mỗi mục đều ghi rõ: câu hỏi nghiên cứu, quy trình, kết quả, những điểm còn bất định, lý do dừng lại và nơi lưu dữ liệu thô. Không phải thứ gì cũng công khai được, vì còn liên quan đến tài sản trí tuệ, đối tác và dữ liệu cần bảo mật. Nhưng trong nội bộ, ai cũng phải tìm ra được.
Một năm sau, một nghiên cứu sinh mới đề xuất thử một tỷ lệ pha mà tôi nhớ mang máng từng thất bại. Tra kho, quả nhiên có. Năm năm trước, một nghiên cứu viên sau tiến sĩ đã thử, và polymer bị tách pha ở độ ẩm cao. Nếu không có kho lưu, chúng tôi có thể đã mất hai tháng để lặp lại đúng sai lầm ấy. Người nghiên cứu viên đó đã rời Viện từ lâu, nhưng tên anh vẫn nằm trong mục ghi chép. Tôi thấy vui. Kết quả của anh không thành bài báo, nhưng cũng không biến mất cùng người làm ra nó.
Thầy Đạt gọi kho ấy là “trí nhớ xấu của phòng thí nghiệm”. Tôi sửa lại: “Trí nhớ về những điều xấu.”
“Nghe còn tệ hơn.”
Nhưng kho lưu vẫn sống.
Dần dần, những câu hỏi trong phòng thí nghiệm thay đổi. Ngày trước, khi ai đó trình bày một kết quả đẹp, người khác sẽ hỏi: “Định đăng ở đâu?” Bây giờ, thường có thêm: “Dữ liệu thô để ở đâu? Lặp lại chưa? Ai khác đã làm? Còn biến số nào chưa kiểm tra?”
Không phải chúng tôi mất đi tham vọng. Chúng tôi vẫn muốn có bài báo tốt, vẫn muốn được tài trợ, vẫn muốn công nghệ của mình được dùng. Chỉ là có thêm một lớp ma sát giữa sự phấn khích và tít báo. Ma sát làm mọi thứ chậm lại. Nhưng theo một nghĩa nào đó, chính vật liệu của tôi cũng hoạt động nhờ ma sát giữa các phân tử.
Tôi bắt đầu thấy chậm không phải lúc nào cũng là kẻ thù của tiến bộ. Đôi khi, chậm vừa đủ để một kết quả có cơ hội trở thành thứ người khác có thể tin.