Chương 3 / 8 ◆ ~8 phút đọc

Chương 3: Ba phòng lab, ba kết quả khác nhau

Tái lập trong nội bộ cho chúng tôi một hiện tượng. Nhưng chỉ tái lập bên ngoài mới cho biết hiện tượng ấy có sống được khi ra khỏi phòng B7 hay không.

Thầy Đạt đề nghị gửi công thức và quy trình cho ba nhóm khác: một phòng lab polymer ở Đại học Bách khoa Hà Nội, một nhóm vật liệu ở Thành phố Hồ Chí Minh, và một phòng lab ở Hàn Quốc từng hợp tác với Viện. Tôi phản đối ngay lập tức.

“Chưa có bằng sáng chế mà đã gửi công thức ra ngoài ạ?”

“Có thỏa thuận bảo mật.”

“Vẫn có rủi ro.”

“Có.”

“Nếu họ công bố trước?”

“Có thể.”

“Vậy sao còn gửi?”

Ông nhìn tôi. “Vì nếu chỉ phòng mình làm được, nhờ những điều mà chính phòng mình không biết là mình đang làm, thì em không có vật liệu. Em chỉ có một nghi thức.”

Câu đó đánh trúng tôi. Rất nhiều quy trình trên giấy trông đầy đủ, nhưng vẫn bỏ sót những thứ người trong phòng làm theo thói quen: cách rót, tốc độ khuấy, thời gian chờ trước khi khử khí, độ dày thực của màng, cách giữ cho hai mép vết nứt tiếp xúc nhau. Phòng B7 có thể đã truyền miệng cả trăm chi tiết mà chúng tôi tưởng “ai cũng biết”. Tái lập ở phòng khác là cách buộc những kiến thức vô hình ấy lộ diện.

Chúng tôi gửi đi quy trình phiên bản một. Không có video hướng dẫn, không cử người sang tận nơi. Chỉ có tài liệu, nguyên liệu đã mã hóa số lô và tiêu chí đo.

Tôi chờ gần một tháng. Kết quả đầu tiên từ Bách khoa: độ phục hồi ở độ ẩm cao có tăng, nhưng thấp hơn rõ rệt so với phòng chúng tôi. Thành phố Hồ Chí Minh: dao động cực lớn, có mẫu phục hồi tốt, có mẫu gần như không lành chút nào. Hàn Quốc: hiện tượng yếu đến mức nhóm bên đó nghi ngờ công thức không ổn định.

Đọc ba email liền nhau, tôi có cảm giác như nhận ba lá thư từ chối của phản biện cùng một lúc.

“Ít nhất không ai ra chín mươi bảy,” Tùng nói.

“Cảm ơn em.”

“Em đang an ủi anh đấy.”

“Dở tệ.”

Thầy Đạt thì lại vui một cách kỳ lạ. “Tốt.”

“Thầy dùng chữ này nhiều quá,” tôi nói.

“Vì sự khác biệt là thông tin.”

Chúng tôi tổ chức một cuộc họp chung với cả ba nhóm. Không ai hỏi phòng nào “làm sai”. Câu hỏi duy nhất là: khác nhau ở đâu? Bách khoa dùng khuôn tạo màng bằng thép, chúng tôi dùng kính. Nhóm ở Thành phố Hồ Chí Minh khử khí lâu hơn vì độ nhớt họ đo được cao hơn. Phòng ở Hàn Quốc cân bằng mẫu sau khi đóng rắn trong bốn mươi tám giờ, còn chúng tôi thường chỉ hai mươi bốn. Phân bố độ dày khác nhau. Máy thử cơ học có dải tải khác nhau. Ngay cả chất lượng nước dùng để tạo ẩm cũng khác.

Một số khác biệt nghe có vẻ chẳng liên quan. Nhưng nếu mẫu 1372 đã dạy tôi điều gì, thì đó là đừng vội gọi một biến số là “không liên quan” chỉ vì mình chưa nghĩ ra cơ chế. Chúng tôi lập một bảng hơn bốn mươi điểm khác biệt, rồi chọn ra những biến có khả năng ảnh hưởng lớn nhất để thử chéo.

Đây là kiểu công việc nhàm chán đến mức không bài báo phổ thông nào muốn viết. Nhưng chính nó làm quy trình tốt lên. Độ dày màng hóa ra quan trọng hơn tôi nghĩ, vì mẫu quá dày giữ ẩm khác hẳn mẫu mỏng. Thời gian ổn định mẫu sau phục hồi ảnh hưởng đến phép đo. Tạo vết nứt bằng dao cầm tay gây dao động lớn, còn dùng đồ gá cắt thì chuẩn hơn. Và còn một bước chúng tôi chưa bao giờ ghi rõ: sau khi cắt, người làm ở phòng B7 thường ép nhẹ hai bề mặt vào nhau trước khi đặt vào đồ gá. Ở phòng lab Hàn Quốc, họ chỉ để hai mặt tiếp xúc tự nhiên.

Tùng xem lại video cũ. “Anh lúc nào cũng bóp hai mép lại.”

“Thói quen thôi.”

“Quy trình đâu có ghi.”

“Anh tưởng chuyện đó hiển nhiên.”

“Hiển nhiên với anh thôi.”

Tôi ngồi im. Một thao tác ba giây nằm ngoài quy trình lại có thể là một phần của hiện tượng. Nếu vậy, ngay cả cụm từ “vật liệu tự phục hồi” cũng cần dùng thận trọng. Nó không tự làm được mọi thứ. Nó cần hai bề mặt được đưa về tiếp xúc, cần độ ẩm phù hợp, cần thời gian, và tổn thương phải nằm trong giới hạn. Không phải một siêu anh hùng trong phim tự liền mọi vết thương. Chỉ là một hệ vật liệu có khả năng tự sửa trong những điều kiện cụ thể.

Chúng tôi viết quy trình phiên bản hai chi tiết hơn. Nhưng lần này thầy Đạt dặn: “Đừng biến quy trình thành công thức nấu ăn, giả vờ như mọi phòng lab đều giống nhau.”

“Vậy phải làm sao ạ?”

“Ghi cả khoảng chấp nhận được và những thứ bắt buộc phải báo cáo, chứ không chỉ một con số.”

Thế là độ dày phải nằm trong một khoảng xác định và phải báo cáo giá trị thực. Độ ẩm phải ghi số đo thực tế theo thời gian. Lực ép tiếp xúc bề mặt phải dùng đồ gá chuẩn hóa, hoặc báo cáo rõ phương pháp khác. Khâu ổn định mẫu phải được ghi lại. Thử cơ học phải báo cáo dải đo của thiết bị và thông tin hiệu chuẩn. Một quy trình không chỉ ra lệnh, nó còn phải cho người làm sau biết những biến số nào có thể khiến kết quả của họ khác mình.

Vòng tái lập thứ hai tốt hơn rõ rệt. Cả ba phòng đều thấy độ ẩm cao làm tăng khả năng tự sửa so với độ ẩm thấp. Độ lớn vẫn khác nhau, nhưng xu hướng thì nhất quán. Khi đưa mẫu về cùng trạng thái trước khi thử cơ học, mức phục hồi không thần kỳ, nhưng đủ để lặp lại.

Đó là lần đầu tiên tôi thật sự tin hiện tượng này có thật. Không phải vì con số cao, mà vì người khác làm được mà không cần đến bàn tay tôi.

Phòng lab Hàn Quốc gửi một ghi chú ngắn bằng tiếng Anh, đại ý: với quy trình đã sửa, họ tái lập được xu hướng, nhưng giá trị tuyệt đối vẫn phụ thuộc vào từng phòng thí nghiệm. Tôi đọc mà vui hơn cả đêm thấy con số chín mươi bảy.

“Giờ anh dễ thỏa mãn vậy à?” Tùng hỏi.

“Không. Anh chỉ hiểu ra sự khác nhau giữa một kết quả ấn tượng và một kết quả tái lập được.”

Chúng tôi quyết định bài báo đầu tiên không chỉ báo cáo công thức mà còn báo cáo cả quá trình tái lập giữa các phòng thí nghiệm. Thầy Đạt đề nghị mời ba nhóm kia đứng tên đồng tác giả theo mức đóng góp. Một số người trong Viện phản đối: “Bài sẽ có quá nhiều tác giả.”

“Họ có làm thí nghiệm không?” ông hỏi.

“Có, họ làm.”

“Có giúp sửa quy trình không?”

“Có, rất nhiều.”

“Vậy danh sách tên dài không phải là lỗi khoa học.”

Câu chuyện của mẫu 1372 lại bẻ gãy thêm một thói quen của tôi. Ngày trước, tôi nghĩ đây là công trình của tôi, mẫu của tôi, công thức của tôi. Nhưng một kết quả chỉ trở thành tri thức đáng tin sau khi nhiều người đã cố làm cho nó thất bại. Và công lao cũng phải phản ánh quá trình ấy.

Bài báo không được gửi đến Nature Materials, mà đến một tạp chí chuyên ngành tốt, phù hợp phạm vi hơn. Phản biện hỏi rất kỹ về cơ chế. Không ai gọi đây là “vật liệu tự lành gần như hoàn hảo đầu tiên trên thế giới”. Ngày trước, tôi sẽ coi thế là thất vọng. Đến ngày bài được chấp nhận, tôi mở email đọc ba lần. Cảm giác không bùng nổ, chỉ chắc chắn. Một kết quả nhỏ hơn giấc mơ, nhưng đứng vững ở ba phòng thí nghiệm.

Tôi gọi về cho mẹ. “Mẹ ơi, bài của con được đăng rồi.”

“Có giải Nobel chưa?”

Tôi bật cười. “Không mẹ.”

“Rứa đăng bài để làm chi?”

“Để người khác biết tụi con làm được gì, chưa làm được gì, và làm lại thế nào.”

Bà im một lúc. “Rứa nghe cũng được.”

Tôi nghĩ, đúng vậy. Nghe cũng được. Phần lớn khoa học chỉ cần được như thế.

Đã đọc xong

Chương 3 / 8

Câu chuyện vẫn còn phía trước.

Đọc chương tiếp
Home Trước Sau
Đọc tiếp chỗ đang dở? Bạn đã đọc một phần chương này.
Cài đặt Đọc truyện
Cỡ chữ
Giãn dòng
Độ rộng trang đọc
Kiểu Chữ
Phông Nền
💬 Bình luận đoạn
Đang tải bình luận...