Chương 3: Một Khoản Đầu Tư Không Dựa Vào Lòng Biết Ơn
Ba tuần sau, Nguyễn Khánh An gặp Hải Đăng ở Hà Nội. Không phải trong một nhà hàng sang trọng như anh từng thấy người ta bàn chuyện tiền tỷ trên phim, mà trong phòng họp của Vạn An Capital: một màn hình, một bình nước lọc và bốn người. Ngoài Khánh An và Đăng còn có một chuyên viên đầu tư đeo kính và một người phụ trách pháp lý ít nói.
Hồ sơ Đăng gửi đã được in sẵn, đặt giữa bàn. Khánh An không mở trang giới thiệu mà lật thẳng tới trang rủi ro.
“Anh đang tranh chấp với công ty cũ.”
“Đúng.”
“Một phần quy trình giảm ẩm có thể thuộc tài sản của công ty cũ.”
“Đúng.” Đăng đáp, không né tránh.
“Vậy dự án mới dùng gì?”
Đăng kéo sơ đồ lên màn hình. “Không dùng máy cũ, không dùng phần mềm điều khiển cũ, không dùng tài liệu quy trình chuẩn của công ty.”
“Thế còn chuyên môn của anh?”
“Kinh nghiệm cá nhân không biến mất được.” Đăng đáp. “Nhưng cái gì đã được đóng thành tài liệu và phát triển trong công ty thì tôi tách ra.”
Người phụ trách pháp lý cúi xuống ghi chú. Khánh An hỏi tiếp, giọng không đổi: “Tại sao mật ong của anh tốt?”
Đăng không nói tới “enzym quý hiếm”, càng không nói “thần dược”. Anh trả lời: “Tôi không biết tất cả các lô đều tốt.”
Khánh An khẽ nhướng mày. Đăng mở bảng số liệu. “Tôi có dữ liệu của hai mươi bảy lô trong hai mùa gần nhất: độ ẩm, HMF, hoạt tính diastase, các chỉ tiêu an toàn cơ bản và phổ phấn hoa từ những đợt kiểm nghiệm.”
“Có lô nào không đạt?”
“Có.”
Anh không chỉ trình ra những con số đẹp. Anh mở luôn bảng khiếu nại. Một khách từng trả hàng vì mật lên men nhẹ sau khi nắp phuy bị hở trong khâu vận chuyển. Một đơn vị thu mua từng phản ánh màu mật giữa hai mẻ lệch nhau quá nhiều dù dán cùng một nhãn, và Đăng giải thích rằng từ đó họ mới tách rõ từng mẻ, không dùng một ảnh màu chuẩn duy nhất cho cả mùa nữa.
Chuyên viên đầu tư đẩy gọng kính. “Anh đang tự kể lỗi cho nhà đầu tư?”
“Nếu tôi không kể, khi thẩm định các anh cũng sẽ tìm thấy.”
Khánh An đánh dấu vào hồ sơ. Đăng chuyển sang trang tiếp: hai lô có độ ẩm cao hơn ngưỡng nội bộ nên không được đưa vào dòng cao cấp, một lô có chỉ số HMF tăng sau khi bảo quản nhiệt không tốt ở kho trung gian.
“Anh bán lô đó?”
“Hạ phân loại, không bán dưới nhãn cao cấp.”
“Mất bao nhiêu?”
“Gần ba trăm triệu doanh thu kỳ vọng.”
Chuyên viên đầu tư hỏi sang hướng khác: “Nếu mở rộng gấp mười lần, anh kiểm soát thế nào?”
“Không mở gấp mười ngay.” Đăng nói. “Thí điểm ba mươi thùng ong trực tiếp và liên kết tối đa năm hộ.”
“Quá nhỏ.”
“Để chứng minh hệ thống lô trước đã.”
Khánh An gõ nhẹ đầu bút xuống bàn. “Hệ thống lô gồm những gì?”
Đăng trình bày từng lớp. Mỗi thùng ong có mã riêng. Mỗi lần quay mật đều ghi ngày, khu vực, người phụ trách và độ ẩm đo tại chỗ. Mật không được nhập chung trước khi có kết quả kiểm tra đầu vào. Mẫu lưu được niêm phong, ghi mã lô và giữ trong điều kiện đã quy định; nếu phải phối trộn nhiều lô, hồ sơ phải chỉ ra tỷ lệ của từng nguồn.
“Mã QR cho người mua chỉ là giao diện.” anh kết luận. “Dữ liệu phía sau mới quan trọng.”
“Không dùng blockchain?” Khánh An hỏi.
Đăng bật cười. “Nếu người nhập dữ liệu sai thì blockchain chỉ giữ cái sai lâu hơn.”
Chuyên viên đầu tư bật cười trước. Khánh An không cười ngay, nhưng khóe miệng cô hơi động.
“Chi phí thí điểm?”
“Bốn tỷ sáu.”
Không phải năm mươi tỷ như những bản gọi vốn bóng bẩy cô vẫn thường đọc. Khoản tiền ấy gồm thuê khu đất, thùng ong, thiết bị sơ chế độc lập, một phòng sạch nhỏ, chi phí kiểm nghiệm, vốn mua mật liên kết và quỹ dự phòng cho mùa hoa xấu.
“Anh bỏ bao nhiêu?”
“Một tỷ một.”
“Anh có đủ?”
“Không đủ tiền mặt.” Đăng đáp thật. “Có một phần tiết kiệm, phần còn lại tôi bán chiếc xe và vay người nhà, có hợp đồng.”
Khánh An nhìn anh một lúc lâu. “Tôi không thích nhà sáng lập dồn toàn bộ tài sản cá nhân vào dự án.”
“Tôi cũng không thích.”
“Vậy giảm xuống.”
Họ ngồi chỉnh lại cấu trúc ngay tại bàn. Đăng góp tiền và công sức ở mức vừa đủ để gắn trách nhiệm mà không đẩy anh vào đường cùng. Vạn An giải ngân theo ba đợt, không đưa toàn bộ ngay. Đợt hai chỉ mở nếu thí điểm đạt tỷ lệ sống của đàn ong, hồ sơ lô hoàn chỉnh và ít nhất ba hộ liên kết vượt qua kiểm tra. Đợt ba phụ thuộc vào bên mua thử nghiệm và kết quả kiểm nghiệm độc lập.
Khánh An còn thêm một điều. “Khoản đầu tư không rót vào công ty do anh sở hữu một mình.”
“Vậy thì sao?”
“Một công ty mới, hội đồng ba người. Anh phụ trách kỹ thuật. Một người độc lập phụ trách kiểm soát chất lượng. Tôi có quyền quan sát, không có quyền duyệt lô.”
Đăng nhìn cô. “Cô sợ tôi biến thành Hoàng Duy Khang?”
“Tôi sợ mọi nhà sáng lập, nếu hệ thống cho họ quyền quá lớn.”
Câu trả lời khiến Đăng gật đầu. Nó không nhắm vào anh, mà nhắm vào đúng cái lỗ hổng đã đẩy anh ra khỏi cánh cổng ở Đồng Văn.
Trước khi ký bản điều khoản sơ bộ, Khánh An nói thêm: “Cha tôi muốn gửi quà cảm ơn anh.”
“Không cần đâu.”
“Tôi đoán vậy.”
“Còn khoản đầu tư này?”
“Không liên quan tới chuyện sáng hôm đó.” Cô chỉ vào tập hồ sơ. “Nếu thẩm định không đạt, dù anh đã gọi cấp cứu cho cha tôi, tôi vẫn không giải ngân.”
“Tốt.” Đăng nói.
Khánh An nhìn anh. “Anh cũng hay nói từ đó à?”
“Hôm nay mới học.”
Bản điều khoản sơ bộ chưa phải hợp đồng đầu tư. Trong thời gian chờ rà soát pháp lý, Đăng phải tự dựng lại mô hình chi phí từ con số không. Anh phát hiện chi phí kiểm nghiệm tính trên mỗi ki-lô-gam sẽ vô lý nếu quy mô quá nhỏ, còn quy mô quá lớn lại đẩy họ vào đúng áp lực sản lượng mà anh vừa bị gạt ra vì chống lại. Cuối cùng, bản thí điểm được thiết kế để đủ dữ liệu, chứ không phải để đủ đẹp trên trang trình chiếu.
Song song, anh vẫn phải làm việc với luật sư về xung đột sở hữu trí tuệ. Hai tuần sau, ý kiến pháp lý xác nhận dự án mới có thể hoạt động nếu không sử dụng tài liệu, thiết bị điều khiển và nhãn hiệu thuộc công ty cũ; kinh nghiệm nghề và những phương pháp phổ biến thì không thể bị độc quyền hóa.
Đến lúc ấy, Vạn An mới giải ngân đợt một: một tỷ tám trăm triệu. Đủ để dựng thí điểm. Không đủ để mua một chiến thắng.