Chương 4: Ba Mươi Thùng Ong Đầu Tiên
Ba mươi thùng ong đầu tiên được đặt trên một sườn dốc chẳng đẹp đẽ gì để chụp ảnh quảng cáo. Đường vào hẹp, xe tải nhỏ phải lùi hai lần mới qua được khúc ngoặt, và không có cổng lớn nào cả. Nhà sơ chế là một kho nông sản cũ được thuê lại rồi cải tạo, tường còn vết vôi loang.
Đăng thích như vậy. Mỗi đồng chưa đổ vào đá lát sân là một đồng còn dành cho đàn ong và kiểm nghiệm.
Mùa bạc hà vừa bắt đầu. Hoa tím nhạt trải thành từng mảng giữa đá tai mèo, không đều như ảnh du lịch: có thửa nở sớm, có thửa bị gió lạnh làm chậm lại cả tuần. Mỗi sáng, Đăng cùng hai kỹ thuật viên đi qua từng cụm thùng. Không mở tổ quá lâu, và không vì khách sắp tới mà quay mật khi cầu ong chưa vít nắp đủ.
Ngày đầu thử quay, khúc xạ kế cho kết quả độ ẩm cao hơn mức nội bộ chấp nhận. Một nhân viên trẻ nhìn con số, dè dặt đề nghị: “Hay mình cho qua máy giảm ẩm lâu hơn anh?”
Đăng nhìn mẫu mật sóng sánh trong cốc đo. “Giảm ẩm thì được, nhưng trước hết phải biết vì sao mình thu sớm.”
Họ quay lại thùng. Cầu mật chưa chín đều, và một cơn mưa hai ngày trước đã đẩy độ ẩm không khí lên cao. Đăng đặt nắp thùng xuống, chậm rãi nói: “Nếu máy sửa được mọi thứ thì người nuôi ong chỉ cần thu bất cứ lúc nào.”
Anh yêu cầu dừng quay lô đó, chờ thêm.
Ngay chiều hôm ấy, chuyên viên tài chính của Vạn An gọi lên. “Anh vừa bỏ một ngày sản lượng?”
“Đúng.”
“Kế hoạch dòng tiền ghi hôm nay có hàng.”
“Sửa kế hoạch dòng tiền.”
“Bên mua thử nghiệm đã đặt lịch.”
“Dời lịch.”
“Anh nói dễ quá.”
Đăng nhìn dãy thùng ong nằm dưới nắng nhạt. “Nếu tôi ép lô này rồi dùng máy kéo độ ẩm xuống, có thể vẫn đạt chỉ số nước. Nhưng hồ sơ mùa đầu sẽ dạy cả đội rằng cứ làm sai ở trại rồi sửa ở xưởng.”
Đầu dây im lặng một lúc. “Tôi sẽ báo lại.”
Bên mua không vui, nhưng chấp nhận dời ba ngày. Ba ngày sau, lô đầu tiên đạt độ chín tốt hơn hẳn. Đăng không gọi nó là “hoàn hảo”, chỉ chia mẫu làm ba: một phần gửi phòng kiểm nghiệm, một phần giữ làm mẫu lưu niêm phong, một phần dùng cho đánh giá cảm quan và gửi bên mua.
Khánh An lên Đồng Văn đúng hôm lấy mẫu. Cô không đi giày cao gót như kiểu người của quỹ mà Hạnh từng đem ra trêu, mà mang giày leo đường đất, áo khoác tối màu, tóc buộc gọn. Cô bước qua đám đá tai mèo khá vững, chỉ dừng lại thở một chút ở đoạn dốc cuối.
“Đây là lô đầu?”
“Lô đầu đủ điều kiện thí điểm.”
Đăng đưa cô xem mã lô. Đó không phải chuỗi ký tự rối rắm, chỉ gồm vùng, ngày quay, cụm thùng và lần xử lý.
“Người mua quét QR sẽ thấy gì?”
“Những gì họ cần.” Anh liệt kê: ngày thu, khu vực, cơ sở đóng gói và kết quả kiểm nghiệm được công bố. Tọa độ chính xác của từng thùng thì không hiện, để dữ liệu của nông hộ không biến thành thông tin cạnh tranh công khai.
“Tôi tưởng truy xuất nguồn gốc là càng nhiều càng tốt.” Khánh An nói.
“Không.” Đăng lắc đầu. “Đúng và đủ quan trọng hơn nhiều.”
Đợt kiểm nghiệm đầu tiên có một chỉ số làm cả đội lặng đi. Hoạt tính diastase thấp hơn mức họ kỳ vọng, dù vẫn nằm trong giới hạn thương mại của bên mua thử nghiệm. Cậu nhân viên trẻ hỏi nhỏ: “Có phải quy trình giảm ẩm làm hỏng không anh?”
Đăng không đoán. Họ lấy mẫu trước và sau xử lý để so sánh, và kết quả cho thấy một phần mức giảm đã xảy ra từ trước khi mật vào xưởng, nhiều khả năng do thời gian lưu cầu mật và nhiệt độ trên đường vận chuyển. Anh đổi thùng chứa vận chuyển, rút ngắn thời gian từ lúc quay tới lúc sơ chế và gắn thiết bị ghi nhiệt trên cả hai tuyến đường. Lô sau cải thiện rõ.
Khánh An đọc báo cáo, rồi ngẩng lên. “Nếu anh giấu lô đầu, hồ sơ gọi vốn sẽ đẹp hơn.”
“Và cả đội sẽ học được rằng dữ liệu xấu không được phép tồn tại.”
“Tôi đang thử anh.”
“Tôi biết.”
“Khó chịu không?”
“Có.” Đăng cười. “Nhưng cô bỏ tiền. Cô có quyền hỏi.”
Trước khi chốt tháng, họ làm một cuộc diễn tập thu hồi sản phẩm. Khánh An chọn ngẫu nhiên một mã hũ thành phẩm và yêu cầu trong ba mươi phút phải tìm ra bồn trung gian, ngày sơ chế, phiếu cân và hộ nguồn. Đội mất bốn mươi bảy phút, chỉ vì một tệp bị lưu sai thư mục.
Đăng không coi bài thử là thất bại hoàn toàn, nhưng anh sửa lại cấu trúc lưu trữ và phân người kiểm tra cuối mỗi ngày. Khánh An gập sổ: “Truy xuất mà chậm hơn xe cứu hỏa thì tới lúc thu hồi thật chẳng giúp được gì.” Đăng ghi nguyên câu ấy vào biên bản.
Cuộc diễn tập còn lộ thêm một chuyện: hai lọ mẫu lưu dùng cùng loại nắp, nhưng một hộ dán nhãn viết tay, gặp lạnh là nhòe mực. Đăng đổi sang tem chịu ẩm, đồng thời quy định người dán tem không được là người nhập kết quả cuối cùng.
“Chỉ là một cái nhãn thôi mà anh.” một nhân viên càu nhàu.
“Đến lúc không biết lọ nào thuộc mẻ nào thì cái nhãn là cả lô hàng.” Đăng đáp.
Cuối tháng, thí điểm đạt đủ điều kiện để mở đợt vốn thứ hai. Không phải vì mật ong của họ “tốt nhất thế giới”, mà vì ba mươi thùng ong có đủ hồ sơ để lần ngược từng giọt.
Đăng bắt đầu mời năm hộ nuôi ong quanh vùng tham gia. Ông Sình là người đầu tiên tới. Ông không hỏi ứng dụng, không hỏi vốn, chỉ đặt cái mũ len lên đùi rồi hỏi thẳng: “Nếu mật nhà tôi độ ẩm cao, cậu có mua không?”
“Không mua vào lô cao cấp ạ.”
“Thế tôi chịu hết à?”
“Không.” Đăng mở bảng giá thử nghiệm. “Có mức phân loại khác. Và nếu nguyên nhân là do thu sớm, kỹ thuật bên cháu hỗ trợ bác chỉnh lại cho mùa sau.”
“Nếu nhà cậu đo sai?”
“Bác được quyền yêu cầu kiểm lại ở phòng thử nghiệm độc lập.”
Ông Sình nheo mắt. “Ai trả tiền?”
“Nếu kết quả đầu sai, bên cháu trả. Nếu kết quả đầu đúng, mình chia đôi.”
Ông lão gật gù. “Thế thì được.”
Không có cảnh hàng chục nông hộ lập tức kéo nhau đi theo. Chỉ có một người ký thử, và một mùa hoa vẫn còn dài phía trước.