Chương 6: Hợp Tác Xã Không Có Phép Màu
Hợp tác xã không thể ra đời trong một buổi chiều nhờ một bài phát biểu hay. Cuộc họp đầu tiên có mười một hộ, và bốn hộ bỏ về trước khi kết thúc. Một người phản đối chuyện ghi chép thức ăn bổ sung; một người khác khăng khăng rằng mẫu lưu là cách để “nhà đầu tư giữ mật lại, sau này ép giá”. Ông Sình ngồi cuối bàn, khoanh tay, không nói một lời.
Đăng không đứng lên bục. Anh dán ba tờ giấy khổ lớn lên tường, mỗi tờ một câu hỏi: Ai sở hữu mật? Ai quyết định giá? Nếu tranh cãi về kết quả kiểm nghiệm thì làm gì?
“Ba câu này chưa rõ thì mình chưa lập được gì cả.” anh nói.
Một hộ giơ tay. “Vạn An bỏ tiền, sau này có lấy luôn hợp tác xã không?”
Khánh An dự họp qua màn hình đặt trên bàn. Cô trả lời gọn: “Quỹ không góp vốn vào hợp tác xã.”
“Thế quỹ kiếm tiền ở đâu?”
“Quỹ đầu tư vào công ty sơ chế và phân phối. Hợp tác xã bán nguyên liệu cho công ty theo hợp đồng.”
“Nếu công ty ép giá?”
“Hợp tác xã có quyền bán cho nơi khác theo điều kiện hợp đồng, trừ những lô đã nhận tiền ứng.”
Một người khác cười to: “Nói thì hay lắm.”
Khánh An gật đầu trên màn hình. “Nên mới phải viết ra giấy.”
Buổi họp kéo dài bốn tiếng, ấm nước chè được đun lại ba lần. Kết quả không phải “hàng chục hộ đồng lòng”, mà chỉ có bảy hộ đồng ý vào nhóm chuẩn bị. Họ thuê một kế toán địa phương hướng dẫn thủ tục, nhờ luật sư rà điều lệ. Đăng không nhận chức chủ tịch, ông Sình cũng từ chối. Cả nhóm bầu một phụ nữ tên Vàng Thị Mỷ, người đã bán mật mười năm và nổi tiếng khó tính mỗi khi cân hàng.
Mỷ nói ngay câu đầu tiên sau khi được bầu: “Ai nghĩ vào đây để được mua giá cao dù mật ướt thì khỏi vào.”
Đăng thích câu đó.
Hợp tác xã bắt đầu thử nghiệm quy tắc phân lô. Mỗi hộ có mã riêng. Mỗi lần giao hàng đều cân tại chỗ, độ ẩm đo ngay trước mặt người bán. Mẫu được chia đôi: một phần gửi về phòng kiểm nghiệm theo kế hoạch lấy mẫu, một phần niêm phong giữ tại hợp tác xã.
Không phải lô nào cũng được xét nghiệm đủ mọi chỉ tiêu đắt tiền. Họ dùng kế hoạch theo mức rủi ro: lô mới, hộ mới, chỉ số bất thường, hoặc khi bên mua yêu cầu, thì mới mở rộng nhóm chỉ tiêu. Khánh An xem bảng ngân sách rồi nói thẳng: “Nếu kiểm đủ mọi lọ, mình phá sản trước Khang.”
Đăng gật. “Nên phải phân tầng.”
Một vấn đề khác nhanh chóng xuất hiện. Hai hộ vẫn muốn cho ong ăn đường trong thời gian thiếu hoa để giữ đàn. Việc đó không phải lúc nào cũng sai, nhưng nếu cho ăn sát thời điểm khai thác thì nguy cơ đường ngoại sinh lẫn vào mật sẽ tăng. Sau một buổi bàn cãi, họ thống nhất một khoảng thời gian bắt buộc dừng cho ăn bổ sung trước khai thác theo quy trình kỹ thuật, và mọi hộ phải ghi nhật ký.
“Ghi làm gì nếu người ta nói dối?” một thanh niên hỏi, giọng không giấu vẻ thách thức.
Đăng đáp: “Không có sổ thì không có gì để kiểm. Có sổ thì người ta vẫn có thể nói dối, nhưng mình còn đối chiếu được với kết quả kiểm nghiệm và tình trạng thực tế của đàn ong.”
Không ai vỗ tay. Nhưng cậu thanh niên lặng lẽ chép câu ấy vào cuốn vở.
Trong lúc đó, lá thư cáo buộc vi phạm bí mật kinh doanh của công ty cũ buộc dự án phải ngừng dùng một số thông số máy mà Đăng vẫn nhớ trong đầu, nhưng trước đây đã được ghi thành tài liệu quy trình chuẩn của công ty. Luật sư khuyên anh tránh dùng y nguyên.
“Nhưng chính tôi xây dựng quy trình đó.”
“Anh xây dựng trong công ty.”
“Vậy tôi phải quên kiến thức của mình à?”
“Không.” luật sư đáp. “Nhưng một bảng thông số cụ thể, được tạo ra và lưu như tài liệu mật, thì có thể là chuyện khác.”
Đăng bực bội. Đó là phần nghề của anh, là những đêm anh ngồi canh máy. Nhưng anh cũng hiểu cảm giác “của mình” không phải là kết luận pháp lý.
Dự án thuê một kỹ sư quá trình độc lập. Hai người thiết kế lại chu trình giảm ẩm từ mục tiêu đầu ra, không chép lại quy trình cũ. Họ chạy thử ba mức nhiệt độ và thời gian khác nhau trên những mẫu nhỏ, đo độ ẩm trước và sau, theo dõi HMF và diastase ở từng điều kiện. Phương án mới chậm hơn máy cũ tám phần trăm, nhưng toàn bộ hồ sơ phát triển đều sạch.
“Anh có thấy đau không, khi phải làm lại thứ mình đã làm suốt sáu năm?” người kỹ sư hỏi.
Đăng nhìn bảng kết quả. “Có.”
“Thế sao anh lại cười?”
“Vì lần này mình biết tại sao từng con số ở đây lại như vậy.”
Một cuộc tranh cãi khác kéo dài tới hai buổi họp: cân bì. Mỗi nhà dùng can, thùng, phuy khác nhau; nếu trừ bì theo ước lượng thì vài ki-lô-gam chênh lệch mỗi chuyến cũng đủ khiến người bán nghi bị ăn gian. Mỷ yêu cầu cân bì từng loại dụng cụ trước mùa rồi dán mã lên từng chiếc.
Ban đầu Đăng thấy đó là chuyện nhỏ. Đến khi chứng kiến hai hộ cãi nhau to tiếng chỉ vì ba ki-lô-gam, anh mới hiểu việc quản trị không nằm trong những trang trình chiếu lớn lao. Nó nằm ở cái cân, cái nắp và ai là người có quyền sửa con số.
Cuối tháng, hợp tác xã có mười hai thành viên. Vẫn nhỏ, nhưng lần đầu tiên họ đàm phán chung với bên mua thay vì từng nhà đơn lẻ. Giá chưa tăng mạnh; điều thay đổi rõ nhất là người bán biết vì sao lô của mình được xếp vào loại nào.
Ông Sình nhận bảng kết quả của một lô, chỉ tay vào dòng phổ phấn hoa. “Cái này bác không hiểu.”
“Cháu cũng không tự đọc được hết.” Đăng nói. “Phòng thí nghiệm giải thích cho mình. Mình dùng nó cùng với các dữ liệu khác, không coi một chỉ số là phán quyết.”
Ông gật đầu. “Thế thì được.”
Đăng tưởng giai đoạn khó nhất là dựng hệ thống. Anh đã sai.
Một buổi sáng, Khánh An gửi cho anh ảnh chụp một bản báo cáo đang lan trên mạng. Tiêu đề in đậm: “Mẫu mật ong bạc hà từ vùng liên kết Vạn An phát hiện chì vượt giới hạn.” Bên dưới có tên một phòng thử nghiệm có thật, có mã mẫu, có cả chữ ký quét. Nhìn qua, nó không hề giống một tin bịa vụng về.
Điện thoại của Đăng bắt đầu đổ chuông liên tục. Bên mua đầu tiên yêu cầu dừng nhận hàng. Tin nhắn từ hợp tác xã dồn lên không ngớt. Và Vạn An Capital gửi lịch họp khẩn vào ngay buổi chiều.