Chương 7: Tờ Kết Quả Nhiễm Chì
Tờ kết quả nhiễm chì có đủ mọi thứ khiến người ta sợ. Tên phòng thử nghiệm là thật, định dạng báo cáo nhìn đúng chuẩn, mã phương pháp có vẻ hợp lý. Con số hàm lượng chì được in đậm, và ở ô tên mẫu có dòng chữ “VA-DV”, hai ký hiệu mà ai theo dõi ngành mật ong cũng có thể đọc thành Vạn An, Đồng Văn.
Đăng không đăng bài phản bác. Việc đầu tiên anh làm là tìm số điện thoại của phòng thử nghiệm trên trang web chính thức, chứ không gọi theo số in trên bản quét. Bộ phận tiếp nhận xác nhận số báo cáo đó có tồn tại trong hệ thống, nhưng họ không thể cung cấp thông tin khách hàng qua điện thoại.
“Tôi chỉ cần biết tên mẫu trên bản đang lan truyền có khớp với hồ sơ của các anh không.”
“Anh gửi yêu cầu bằng văn bản và chứng minh quyền lợi liên quan.”
Đăng làm ngay. Anh soạn công văn, đính kèm giấy đăng ký doanh nghiệp, bản chụp bài đăng và đường dẫn nơi nó xuất hiện, rồi gửi đi trước chín giờ sáng.
Trong lúc chờ, đơn vị thu mua lớn nhất gửi thông báo tạm dừng nhận ba lô đang chuẩn bị giao. Người phụ trách gọi điện, giọng không gay gắt: “Không hủy. Nhưng chúng tôi cần xác minh.”
“Tôi hiểu.”
“Anh có phiếu kết quả kiểm nghiệm gần nhất không?”
“Có.”
“Có chỉ tiêu kim loại nặng?”
“Một số lô, theo kế hoạch kiểm.”
“Không phải mọi lô?”
“Không.”
Đăng không tô vẽ câu trả lời. Bên mua yêu cầu lấy mẫu mới theo quy trình bàn giao có giám sát, với một đơn vị độc lập chứng kiến từ đầu tới cuối. Đăng đồng ý ngay.
Trước cuộc họp với quỹ, anh gọi lại cho bà phụ trách thu mua, lần này để xin lỗi vì họ phải dừng kế hoạch sản xuất. Bà không mắng, cũng không tỏ ra thông cảm thái quá, và chính sự bình tĩnh ấy làm anh khó chịu hơn.
“Chúng tôi mua nguyên liệu, không mua câu chuyện của nhà sáng lập.” bà nói. “Nếu anh chứng minh được các mẻ hàng ổn, chúng tôi tiếp tục. Nếu không, dừng.”
Đăng im một giây rồi đáp: “Tôi hiểu.”
“Và đừng gửi cho tôi bài báo phản bác nào. Gửi quy trình lấy mẫu.”
“Được.”
Buổi chiều, hội đồng đầu tư của Vạn An họp khẩn. Khánh An không ngồi ở vị trí người bảo vệ Đăng. Cô là người đầu tiên đứng lên trình bày rủi ro.
“Nếu cáo buộc là đúng, đây là rủi ro an toàn sản phẩm và rủi ro thương hiệu.”
Một thành viên hội đồng hỏi: “Đề xuất của cô?”
“Tạm giữ đợt giải ngân thứ ba.”
Đăng quay sang nhìn cô. Khoản đó là vốn lưu động để thanh toán các đơn mua của nông hộ trong ba tuần tới. Nếu bị giữ lại, công ty có thể không đủ tiền trả đúng hạn.
“Cô đang đóng băng tiền?”
“Tạm dừng giải ngân mới.” Khánh An nhìn thẳng anh. “Không rút số vốn đã có.”
“Hai tuần là đủ giết cả mùa thu mua.”
“Và giải ngân khi chưa rõ chuyện chì là đủ giết cả quỹ.”
Cả phòng im phăng phắc. Đăng muốn nói rằng cô biết rõ hệ thống lấy mẫu của anh. Muốn nhắc tới cha cô. Muốn hỏi chẳng lẽ sáu tháng làm việc cùng nhau không đáng một chút niềm tin. Nhưng anh không nói gì cả, vì anh hiểu Khánh An đang làm đúng vai của mình.
“Điều kiện để mở lại đợt giải ngân?” anh hỏi.
“Hai việc.” cô đáp. “Xác minh nguồn của bản báo cáo đang lan truyền, và có một bộ kết quả độc lập trên mẫu được lấy có chứng kiến. Nếu có dấu hiệu thật, phải khoanh vùng từng mẻ hàng trước khi nói tới chuyện tiền.”
“Được.” Đăng gật đầu, không mặc cả thêm.
Cuộc họp kết thúc. Đăng ra hành lang gọi ngay cho Mỷ.
“Tối nay họp hợp tác xã.”
“Người ta đang bảo mật mình có chì đấy.”
“Cháu biết.”
“Mấy nhà đòi rút mật về rồi.”
“Cho họ quyền rút những lô chưa nhận tiền ứng.”
“Còn những lô đã giao?”
“Niêm kho lại. Không xuất.”
“Tiền thì sao?”
Đăng nhìn bảng dòng tiền trên điện thoại. “Mình trả đúng hạn những lô đã nhận trước khi có cáo buộc.”
“Tiền đâu ra?”
Anh không có câu trả lời dễ dàng nào. Quỹ dự phòng chỉ đủ hơn một tuần. Đăng hủy kế hoạch mua thêm thiết bị, dừng lương của chính mình một tháng, thương lượng giãn thời hạn thanh toán với hai nhà cung cấp bao bì, và dùng hạn mức tín dụng ngắn hạn nhỏ đã được phê duyệt từ trước, không mở khoản vay mới giữa lúc khủng hoảng.
Khi biết kế hoạch, Khánh An gọi lại. “Anh định trả nông hộ trước rồi chậm tiền bao bì?”
“Nếu nhà cung cấp đồng ý.”
“Nếu họ không đồng ý?”
“Giảm đóng gói, không giảm tiền nguyên liệu đã nhận.” Đăng nói. “Nếu ngay lần khủng hoảng đầu tiên mình đã đẩy rủi ro xuống người yếu nhất, thì hợp tác xã coi như xong.”
Tối hôm ấy, mười hai hộ ngồi kín căn phòng nhỏ của hợp tác xã. Bóng đèn tuýp kêu rè rè, ngoài trời gió rít qua mái tôn. Không ai quan tâm tới thuật ngữ “bàn giao mẫu có giám sát”. Họ chỉ hỏi một câu: “Mật nhà tôi có chì không?”
Đăng bày tất cả phiếu kết quả kiểm nghiệm hiện có lên bàn. “Những mẫu đã kiểm kim loại nặng chưa thấy có vấn đề.”
“Còn cái mẫu trên mạng?”
“Chưa biết lấy từ đâu.”
“Vậy là cậu không chắc?”
“Không chắc.”
Không khí căng lên. Một người đàn ông đứng bật dậy, kéo ghế kêu ken két. “Tôi rút.”
Đăng gật đầu. “Lô nào chưa nhận tiền ứng, bác có quyền mang về.”
Người đàn ông sững lại, như thể đã chuẩn bị sẵn một trận cãi. “Cậu không giữ lại à?”
“Không.” Đăng lắc đầu.
Hai hộ khác cũng đứng dậy theo. Hợp tác xã từ mười hai còn chín. Đăng nhìn ba chiếc ghế trống còn ấm hơi người. Đây là lần đầu dự án mất đi những con người thật, chứ không phải những con số trên bảng tính.
Sáng hôm sau, đơn vị kiểm định độc lập tới kho. Họ tự chọn ngẫu nhiên từ những lô đang bị giữ, tự niêm phong mẫu và ghi mã. Một mẫu đối chứng từ mẫu lưu cũ cũng được lấy ra theo biên bản. Đăng không chạm vào bất kỳ lọ nào sau khi niêm. Anh chỉ ký xác nhận vị trí lấy mẫu và giờ bàn giao; từ lúc ấy, mẫu phải có lịch sử riêng của nó, không còn phụ thuộc vào lời anh nói.
Chiều cùng ngày, phòng thử nghiệm phản hồi bằng văn bản. Bản báo cáo là thật. Nhưng tên mẫu gốc trong hệ thống của họ không phải “VA-DV”, mà là “Mật bạc hà – mẫu thị trường M17”. Dòng chữ “VA-DV” chỉ xuất hiện trên bản quét đang lưu hành, không hề có trong bản do phòng thí nghiệm phát hành.
Có người đã sửa tên mẫu.
Đăng đọc đi đọc lại email xác nhận. Anh không thấy nhẹ nhõm hoàn toàn, vì mẫu thị trường M17 vẫn có hàm lượng chì cao, và chưa ai biết nó là sản phẩm của ai.
Anh chỉ chắc chắn một điều. Đòn đánh vào dự án đã dùng một báo cáo thật, gắn lên đó một cái tên giả. Kẻ làm việc này hiểu hồ sơ đủ rõ để khiến lời nói dối trông rất gần với sự thật.