Chương 3: Hồ sơ sinh không có đứa trẻ chết
Bệnh viện Minh Tâm đã đổi tên hai lần trong hai mươi bốn năm.
Khoa sản cũ chuyển sang tòa nhà khác.
Nhiều hồ sơ đã được số hóa.
Nhưng những năm đầu hệ thống vẫn dùng giấy carbon, sổ sinh và các phiếu chuyển khoa đóng dấu tay.
Tống Quốc Thành tới cùng luật sư gia đình.
Lê Thục Hà không muốn đợi.
Bà tự đi.
Minh Châu cũng đi theo.
Minh Vũ ở lại căn hộ Nhã An với Phương Thảo để sắp xếp đồ.
Người phụ trách lưu trữ bệnh viện nghe yêu cầu rồi nói:
“Hồ sơ hai mươi bốn năm trước không thể lấy ngay trong buổi sáng.”
Thục Hà đặt tấm thẻ sơ sinh lên bàn.
“Tôi chỉ muốn biết mã này có thật không.”
Người phụ nữ nhìn.
HB-0421-F-17.
Bà gõ vào hệ thống chỉ mục cũ.
Không có kết quả trực tiếp.
“Mã này thuộc quy ước trước khi bệnh viện đổi hệ thống. Tôi cần tra sổ.”
Thục Hà hỏi:
“Bao lâu?”
“Có thể vài ngày.”
Quốc Thành chạm tay vợ.
“Mình chờ.”
Thục Hà nhìn ông.
“Hai mươi bốn năm rồi.”
Giọng bà nhỏ.
“Em không muốn chờ thêm.”
Không ai có thể làm kho lưu trữ chạy nhanh hơn nỗi đau.
Họ vẫn phải đợi.
Ba ngày sau bệnh viện gọi.
Họ tìm thấy sổ sinh.
Tống gia được phép xem bản sao chứng thực theo quy trình.
Ngày sinh của Nhã An.
Dòng thứ mười bảy.
Mẹ: Lê Thục Hà.
Trẻ: nữ.
Sinh sống.
Cân nặng: 2,7 kg.
Chuyển theo dõi sơ sinh.
Không có dòng nào ghi đứa trẻ chết.
Thục Hà nhìn từ “sinh sống” rất lâu.
“Tôi có thể xem hồ sơ của tôi không?”
“Chúng tôi đang tìm phần sản khoa.”
Hồ sơ của bà được lưu ở một kho khác.
Thêm hai ngày.
Trong đó có bản tường trình cuộc sinh khó, tình trạng mất máu sau sinh, thuốc an thần và theo dõi hậu sản.
Có một ghi chú vào buổi chiều:
Người nhà yêu cầu hạn chế tiếp xúc mẹ – trẻ tạm thời do tình trạng sản phụ và vấn đề gia đình. Trẻ được bàn giao theo giấy xác nhận giám hộ đặc biệt.
Người ký phần “đại diện gia đình”:
Tống Bạch Cầm.
Thục Hà đọc tên mẹ chồng cũ của mình.
Bà đã biết.
Nhưng vẫn như bị đánh thêm một lần.
“Tại sao bệnh viện cho một người không phải mẹ đưa trẻ đi?”
Người lưu trữ không có câu trả lời.
“Tôi chỉ có thể nói đây là giấy tờ còn lại. Quy trình thời điểm đó khác hiện nay và chúng tôi không thể suy đoán từ hồ sơ thiếu.”
Luật sư đề nghị tra thêm sổ bàn giao.
Có.
Ngày kế tiếp sau sinh, mã HB-0421-F-17 rời khoa cùng người giám hộ:
Tống Ngọc Uyên.
Phần quan hệ với trẻ ghi:
họ hàng phía cha.
Địa chỉ trùng với căn nhà nơi Nhã An sống năm năm đầu.
Minh Châu ngồi cạnh mẹ.
“Vậy chị An… thật sự là chị con?”
Thục Hà không nói.
Bà đặt tay lên dòng tên mình.
Minh Châu lập tức sửa:
“Ý con là chị ruột.”
Không ai trách cô.
Cả nhà đã dùng “chị An” suốt đời.
Chỉ hai chữ “ruột” mới khiến câu chuyện họ biết sụp xuống.
Nhưng giấy tờ vẫn còn một chỗ không khớp.
Trong hồ sơ hộ tịch mà Tống gia từng dùng khi nhận nuôi Nhã An năm năm tuổi, ngày sinh của cô muộn hơn ngày trong thẻ sơ sinh hai ngày.
Không phải nhiều.
Đủ để không ai từng nối lại.
Tên mẹ trên giấy khai sinh cũ là Tống Ngọc Uyên.
Không có cha.
“Ai làm giấy đó?” Quốc Thành hỏi.
Luật sư nói:
“Có thể lập sau. Cần tra hồ sơ hộ tịch gốc.”
Một tuần nữa trôi qua.
Từng tờ giấy không tạo ra cú twist đẹp.
Chúng chỉ khiến một lời nói dối trở nên ngày càng khó chối.
Hồ sơ đăng ký khai sinh của Nhã An không có giấy chứng sinh gốc.
Nó dựa trên xác nhận của người giám hộ và hai người làm chứng, lập muộn gần bốn tháng.
Một trong hai người làm chứng đã mất.
Người còn lại là một y tá về hưu tên Trần Mỹ Dung.
Bệnh viện cung cấp thông tin liên hệ cũ; luật sư tìm được con gái bà.
Mỹ Dung sống ở Bình Dương, bảy mươi ba tuổi.
Khi nghe tên Lê Thục Hà, bà im lặng rất lâu.
“Cuối cùng cô cũng biết?”
Thục Hà không khóc.
Bà chỉ hỏi:
“Cô biết tôi?”
“Tôi là y tá ca chiều hôm cô sinh.”
“Con tôi có chết không?”
Mỹ Dung nhìn bà.
“Không.”
Một chữ.
Hai mươi bốn năm.
“Tôi đã bế con bé.”
Mỹ Dung nói.
“Nó nhỏ nhưng khỏe. Khóc lớn.”
Thục Hà cúi đầu.
“Tôi chưa nghe.”
“Cô mê khá sâu sau sinh.”
“Sau đó?”
Y tá già kể Bạch Cầm tới khoa từ sáng sớm, nói mình là mẹ của cha đứa trẻ và gia đình đang xử lý một tình huống nhạy cảm.
Bà mang nhiều giấy tờ.
Có bác sĩ quản lý ký xác nhận cho trẻ được chuyển cho người giám hộ họ hàng.
“Tôi đã thấy lạ.”
“Cô không ngăn?”
Mỹ Dung nhìn Thục Hà.
“Không.”
Không biện minh.
“Tôi còn trẻ. Trưởng khoa ký. Người nhà có giấy. Tôi làm phần mình.”
Bà thở ra.
“Tôi đã nghĩ người lớn trong gia đình đã thống nhất.”
“Tôi chưa từng thống nhất.”
“Tôi biết bây giờ.”
Thục Hà hỏi:
“Vì sao bà làm chứng khai sinh cho Ngọc Uyên?”
Mỹ Dung cúi mắt.
“Bà Bạch Cầm nhờ.”
“Bà nhận tiền?”
“Có.”
Căn phòng im.
“Tôi đã nhận.”
Y tá già nói.
“Không đủ để thay đổi đời tôi. Nhưng tôi nhận.”
“Bà biết giấy nói Ngọc Uyên là mẹ?”
“Biết.”
“Vậy bà biết sai.”
“Biết.”
Mỹ Dung không khóc.
“Tôi từng tự nói mình chỉ xác nhận một đứa trẻ đang được người đó nuôi, không phải xác nhận huyết thống.”
“Nhưng nếu cô hỏi đó có phải cách tôi né phần mình không…”
Bà dừng.
“Phải.”
Minh Châu nhìn người phụ nữ già.
“Chị An từng gặp bà chưa?”
Mỹ Dung quay sang cô.
“Có.”
Tất cả cứng lại.
“Khi nào?”
“Bốn tháng trước.”
Thục Hà nắm tay ghế.
“Nó hỏi gì?”
“Cũng như cô.”
“Bà nói hết?”
“Tôi nói.”
“Nó phản ứng?”
Mỹ Dung im một lúc.
“Con bé không khóc.”
“Nó chỉ hỏi một câu.”
“Câu gì?”
Y tá già nhìn Thục Hà.
“Nó hỏi: ‘Mẹ tôi có biết tôi còn sống không?’”
Thục Hà bật khóc.
Không phải tiếng khóc lớn.
Bà cúi gập người, hai tay che mặt.
Mỹ Dung nói:
“Tôi trả lời tôi tin cô không biết.”
“Nó ngồi rất lâu.”
“Rồi nói cảm ơn.”
Quốc Thành hỏi:
“Nó không hỏi chúng tôi có thương nó không?”
“Không.”
“Không hỏi tại sao không nhận ra?”
“Không.”
“Không hỏi gì nữa?”
“Có.”
Mỹ Dung nhìn ông.
“Nó hỏi bà Bạch Cầm còn sống không.”
Bạch Cầm đã mất ba năm trước.
Nhã An biết người duy nhất dựng toàn bộ câu chuyện không còn để đối chất.
“Sau đó nó làm gì?”
“Cầm bản sao hồ sơ đi.”
Mỹ Dung nói.
“Trước khi đi, nó quay lại hỏi tôi một câu nữa.”
“Câu gì?”
“Nó hỏi: ‘Nếu tôi nói cho họ biết, bà nghĩ họ sẽ đối xử với tôi khác đi không?’”
Không ai trong Tống gia trả lời thay được.
Vì họ biết câu trả lời thật.
Có.
Họ chắc chắn sẽ khác.
Và chính điều đó mới khiến câu hỏi đau.