Chương 6: Đứa trẻ trong cung
Triệu Hành không phải đứa trẻ được chiều chuộng như Nguyệt Lê từng tưởng.
Cậu có cung điện riêng, thái giám riêng, thầy dạy riêng và quần áo tốt hơn tất cả người trong lãnh cung cộng lại.
Nhưng mọi lịch trình đều bị kiểm soát đến mức gần như không thể tự quyết định đi đâu.
Việc cậu trèo tường vào lãnh cung không phải trò nghịch ngợm.
Đó là cách duy nhất để nói chuyện mà không có người lớn đứng cạnh.
Nguyệt Lê không cho cậu tới lần nữa.
Thay vào đó, nàng lập một đường nhắn qua A Mộc và một thư lại già trong Thượng Dược cục. Triệu Hành chỉ cần ghi những gì trực tiếp thấy, không điều tra thêm.
Ba ngày sau, tờ giấy đầu tiên tới.
Ngày mười chín. Tạ thái phó vào cung giờ Mùi. Phụ hoàng tối đó đổi lệnh điều hai doanh quân phía tây.
Ngày thứ hai:
Ngày hai mươi ba. Tạ thái phó vào sau bữa tối. Phụ hoàng không ngủ, sáng hôm sau hủy việc triệu Ngự sử Trần.
Ngày thứ ba:
Mỗi lần Tạ thái phó tới, phòng phụ hoàng đều đốt hương ông mang.
Những ghi chép chưa chứng minh ai điều khiển ai.
Một cố vấn thân cận xuất hiện trước những quyết định lớn là chuyện bình thường.
Nhưng tần suất đủ để Nguyệt Lê muốn đối chiếu.
A Mộc tìm được sổ cấp hương trong ba năm gần nhất.
Phần hương từ phủ Tạ tăng rõ vào những tháng triều đình có tranh luận về người kế vị, điều binh hoặc xử quan.
Nguyệt Lê hỏi thái y già từng xem mẫu hương.
Ông chỉ dám trả lời miệng:
“Không có thứ gì khiến người ta mất ý chí rồi nghe lời như trong chuyện kể.”
“Vậy tác dụng?”
“An thần mạnh. Nếu dùng thường xuyên, người vốn thiếu ngủ có thể uể oải, chậm tập trung. Khi quen mùi, có người còn cảm thấy không đốt thì khó ngủ.”
“Lệ thuộc?”
“Có thể theo thói quen và cảm giác. Ta không dám gọi thành bệnh chỉ từ vài mẫu.”
Nguyệt Lê gật đầu.
Vấn đề không cần một loại “thuốc điều khiển tâm trí”.
Nếu Hoàng đế mất ngủ, mệt mỏi, chỉ nhận thông tin qua một nhóm nhỏ và luôn có cùng một người giúp giải thích mọi nguy cơ, sự lệ thuộc có thể hình thành bằng môi trường.
Hương chỉ là một mảnh.
Mảnh lớn hơn là ai được quyền kể thế giới cho ông.
Nguyệt Lê nói điều đó với A Mộc.
“Nếu chỉ tìm độc, có thể chúng ta sẽ bỏ qua thứ nguy hiểm hơn.”
“Là gì?”
“Một người luôn ở cạnh khi bệ hạ yếu nhất, đồng thời những người phản bác người đó dần bị đẩy ra khỏi tầm nghe.”
Họ xem lại danh sách người từng bị giáng chức, đày khỏi kinh hoặc vào lãnh cung.
Không phải tất cả đều liên quan Tạ Văn Khiêm.
Nhưng nhiều người từng phản đối ông về vụ Đông cung hoặc việc lập người kế vị.
Nguyệt Lê không muốn tự tạo thiên kiến.
Nàng lấy thêm một nhóm đối chứng: những quan bất hòa với Tạ thái phó về thuế, lễ nghi hoặc đất đai nhưng không đụng vụ cháy và kế vị.
Phần lớn họ không bị gắn nhãn “bất ổn” hay “phản nghịch”.
Mô hình trở nên cụ thể hơn.
Tạ Văn Khiêm không dọn tất cả người bất đồng.
Ông dọn những người bất đồng ở một số chủ đề nhất định.
Cùng lúc, Triệu Hành gửi một ghi chép dài hơn về đêm cháy năm năm trước.
Cậu khi ấy bảy tuổi, trốn dưới bàn trong thư phòng phụ vì làm vỡ nghiên mực và sợ bị mắng.
“Ta thấy đại ca vào phòng với Tạ thái phó.” cậu kể trong lần gặp có A Mộc chứng kiến. “Hai người cãi nhau.”
“Cãi gì?”
“Ta không nhớ hết. Có câu ‘bản tấu bị sửa’ và ‘không được dùng phụ hoàng’.”
“Sau đó?”
“Đại ca uống trà.”
“Ai đưa?”
“Không nhớ.”
“Rồi?”
“Đại ca ngồi xuống, nói mệt. Ta sợ bị phát hiện nên bò sang phòng bên.”
“Con thấy hòm?”
Triệu Hành gật.
“Hai người của Tạ phủ mang hòm gỗ ra trước khi lửa lớn.”
“Có thấy trong hòm?”
“Một hòm rơi. Có giấy và mấy túi hương.”
“Con có thể nhớ nhầm thứ tự không?”
Cậu bé hơi bực.
“Ta nhớ.”
“Ta không nói con nói dối. Ký ức năm bảy tuổi có thể trộn. Vì vậy ta sẽ tìm thứ khác đối chiếu.”
Triệu Hành không thích nhưng chấp nhận.
Điều khiến Nguyệt Lê chú ý nhất là câu:
“Những người tin ta đều lần lượt biến mất.”
“Ai?”
“Một thị vệ từng nghe ta kể bị chuyển khỏi cung. Nhũ mẫu nói ta đừng nhắc nữa rồi sau đó cũng bị cho về quê. Tô nương nương tin ta, rồi người vào lãnh cung.”
Đứa trẻ đã học rằng nói thật có thể khiến người nghe biến mất.
Nguyệt Lê không muốn cậu tiếp tục mang gánh ấy.
“Từ giờ con không tự điều tra.”
“Ta đã hứa.”
“Và không giữ vật chứng trong phòng.”
“Vậy giao ai?”
“Nếu có thứ cũ con đã giữ, giao theo biên nhận cho người của Đại lý tự đáng tin. Không đưa riêng cho ta.”
Triệu Hành ngạc nhiên.
“Người không tin chính mình?”
“Ta tin mình có thể bị bắt.”
Cậu hiểu.
Đêm đó, một thái giám nhỏ mang mảnh giấy cháy sém của Triệu Hành tới Đại lý tự theo đường kín.
Ngày hôm sau, cậu đột ngột sốt.
Hiền phi cho người báo chỉ là cảm lạnh.
Nhưng người trông thuốc của cậu đã bị thay.
A Mộc xin thái y già xem đơn.
Thuốc không có độc rõ ràng.
Nhưng liều vị an thần cao hơn bình thường với một đứa trẻ.
“Có thể vì nó mất ngủ do sốt.” thái y nói.
“Ai kê?”
“Một ngự y mới.”
“Ai đổi ngự y?”
“Lệnh Nội vụ phủ.”
Nguyệt Lê không kết luận có người muốn hại Triệu Hành.
Nàng chỉ gửi yêu cầu qua Hiền phi: tạm ngừng vị an thần cho tới khi bác sĩ thứ hai đánh giá, giữ lại tất cả gói thuốc và ghi người giao.
Hiền phi lần này đồng ý ngay.
Cậu bé hết sốt sau hai ngày.
Không có sự cố.
Nhưng trong lúc kiểm thuốc, A Mộc phát hiện dây buộc xanh trên một gói trong khi sổ Thượng Dược cục ghi dây đỏ.
Lời cảnh báo cũ của nguyên chủ không hoàn toàn vô nghĩa.
Không phải “dây xanh là độc”.
Mà có thể “dây bị đổi là dấu cho thấy gói đã đi qua tay khác”.
Nguyệt Lê viết lại câu ấy trong sổ.
Đây là khác biệt giữa nỗi sợ và chứng cứ.
Nỗi sợ nói: thấy dây xanh thì nguy hiểm.
Chứng cứ nói: màu dây không khớp sổ, cần kiểm đường giao.
Và chính đường giao đang dẫn họ ngày càng gần Tạ Văn Khiêm.