Chương 10: Cây Cầu Được Đứng Tên Những Người Không Bỏ Chạy
Ngày đổ lại trụ P7, trời nắng. Sau gần một tháng mưa dầm dề, Hà Nội như được lau sạch, nắng vàng như mật rải lên những thanh thép đã được buộc lại mới tinh, lên lớp ván khuôn thơm mùi gỗ, lên những chiếc mũ bảo hộ đủ màu đứng chật quanh chân trụ. Gió đầu đông thổi qua nút giao, mang theo mùi xi măng và mùi khói xe quen thuộc.
Đức đứng cạnh trạm kiểm tra độ sụt dựng ngay cổng công trường. Chiếc xe bồn đầu tiên vào cổng lúc bảy giờ mười hai phút sáng, đúng với giờ dự kiến trên hệ thống định vị đang chạy trên màn hình máy tính bảng của anh. Anh đứng nhìn công nhân lấy mẫu, đổ hỗn hợp vào côn thử, nhấc côn lên. Khối bê tông sụt xuống chậm rãi, gọn gàng, đúng con số trong cấp phối.
Anh tự tay ký vào nhật ký thi công của mẻ đầu tiên, cả bản giấy lẫn bản điện tử. Màn hình báo dữ liệu đã được đồng bộ sang tài khoản của tư vấn giám sát lúc 7 giờ 19 phút.
Hòa đứng ở vị trí đo độ sụt, áo bảo hộ màu cam mới, cầm côn thử bằng đôi tay chắc chắn. Anh ta đọc số to, rõ ràng, rồi tự ghi vào biên bản, ký tên mình ở ô người đo. Những công nhân từng im lặng trong đêm mưa ấy giờ đứng đúng vị trí của mình, người lo máy bơm, người canh ván khuôn, người đầm dùi. Không ai phải ký khống. Không ai phải ngồi ở quán nước đầu công trường nghe người lạ đưa tờ giấy đánh máy sẵn.
Bảo Ngọc có mặt từ sáu giờ sáng. Cô kiểm tra từng mẫu, chụp từng tem niêm phong, ký từng túi mẫu lưu, vẫn lạnh lùng và kỹ lưỡng như ngày đầu tiên gặp ở Duy Tân. Cô không nói chuyện phiếm, không chúc mừng ai, không khen ai. Đến khi mẻ thứ ba vào cổng và cả quy trình chạy trơn tru từ đầu đến cuối, cô đứng lại cạnh Đức, nhìn bảng số liệu một lúc lâu.
Rồi cô khẽ gật đầu. Chỉ một cái gật đầu rất nhẹ, không kèm lời nào.
Với Đức, cái gật đầu ấy đáng giá hơn mọi lời tung hô. Người làm xây dựng không cần sân khấu, không cần băng rôn, không cần những bài phát biểu trong lễ khánh thành. Công trình đứng vững mới là sân khấu thật, và người xem duy nhất có ý nghĩa là những người sẽ đi qua nó.
Buổi trưa, công nhân ngồi ăn cơm hộp dưới bóng mát của cầu tạm, giờ đã được gia cố gối đỡ và theo dõi định kỳ. Vết nứt mảnh như sợi tóc ngày nào được trám bằng vật liệu chuyên dụng, hai vạch sơn đánh dấu của Đức vẫn còn mờ mờ hai bên. Hòa ngồi cạnh Đức, đưa anh một quả trứng luộc, nói vợ anh ta dặn mang cho anh.
“Thằng cu nhà em đầy tháng rồi, anh ạ,” Hòa nói, cười để lộ chiếc răng khểnh. “Em đặt tên nó là Vững. Vợ em bảo tên gì kỳ, em bảo để nó lớn lên đứng cho vững.”
Đức bật cười, lần đầu tiên sau nhiều tuần anh cười thành tiếng.
Họ ngồi ăn tiếp trong tiếng máy bơm chạy đều đều phía sau. Đức nhìn đội công nhân ngồi rải rác dưới bóng cầu, người đang bóc trứng, người đang gắp miếng đậu phụ, người tranh thủ chợp mắt trên tấm bìa các tông trải dưới đất. Mấy tháng trước, cũng chính những con người này đã cúi đầu đi qua phòng dự án, không dám nhìn ai. Bây giờ họ nói chuyện to, cười to, gọi nhau bằng biệt danh, và khi bác bảo vệ Toàn mang ấm trà ra, cả tổ đứng dậy nhường bác chỗ ngồi râm nhất.
Bảo Ngọc cũng ngồi xuống ăn cùng, trên chiếc thùng sơn úp ngược như hôm ở gầm cầu. Cô vẫn không nói nhiều, nhưng khi Hòa mời cô quả trứng thứ hai, cô nhận, và còn hỏi thằng bé Vững nặng bao nhiêu cân.
Chiều hôm đó, trong cuộc họp giao ban với chủ đầu tư, Đức đưa ra một đề xuất mà anh đã ấp ủ từ đêm đào chiếc thùng mẫu sau kho: lập một quỹ an toàn công trình, dùng để thưởng cho bất kỳ công nhân nào phát hiện và báo cáo sai phạm kỹ thuật có căn cứ, đồng thời bảo đảm họ không bị điều chuyển hay cắt việc vì đã lên tiếng.
Cuộc tranh luận kéo dài gần hai tiếng. Có người bảo sẽ sinh ra tố cáo tràn lan, có người lo chi phí, có người hỏi ai thẩm định đâu là báo cáo có căn cứ. Đức trả lời từng ý một, kiên nhẫn như khi khoanh từng con số trên phiếu trạm trộn.
Cuối cùng, anh nói một câu khiến cả phòng lặng đi. “Chúng ta không thể yêu cầu người yếu nhất trong chuỗi nói thật, nếu cái giá của sự thật luôn đặt hết lên vai họ. Đêm mưa hôm ấy, người đo đúng số là một công nhân. Người cứu được cái thùng mẫu cũng là một công nhân. Họ suýt mất việc vì làm đúng. Nếu lần sau họ chọn im lặng, thì lỗi là của chúng ta.”
Anh Hưng nhìn Đức rất lâu, rồi gõ nhẹ cây bút xuống bàn. Chủ đầu tư đồng ý. Quỹ được lập với khoản đóng góp đầu tiên trích từ phần tiết kiệm sau khi rà soát lại hợp đồng vận chuyển.
Tin về Hoàng Phúc đến với Đức theo từng mẩu, qua những cuộc điện thoại của đồng nghiệp cũ và vài dòng trên báo. Cơ quan điều tra mở rộng sang nhiều dự án cũ hắn từng phụ trách, nơi cũng có những xe bồn chạy lòng vòng và những kho vật liệu tư nhân không rõ chủ. Tin cuối cùng Đức nghe được là hắn đã cố liên hệ với vài vị sếp lớn mà hắn từng mời nhậu không biết bao nhiêu lần, nhưng không ai dám bắt máy.
Đức nghe xong, không nói gì. Anh chỉ nghĩ, một người đã đứng trên bê tông rỗng quá lâu, cuối cùng cũng học được cảm giác nền đất dưới chân mình rỗng theo.
Ba tháng sau, cây cầu vượt Cầu Giấy hoàn thành phần kết cấu. Hai tuần trước ngày thông xe, đội kiểm định cho chạy thử tải. Những chiếc xe tải chở đầy cát được xếp thành hàng trên mặt cầu theo đúng sơ đồ, thiết bị đo gắn dọc thân trụ và dầm, số liệu nhảy liên tục trên màn hình trong lán. Đức thức trắng đêm ấy, ngồi cạnh Bảo Ngọc nhìn từng đường biểu đồ. Độ võng, chuyển vị, biến dạng của trụ P7 đều nằm gọn trong giới hạn cho phép. Khi bản kết quả cuối cùng được in ra, Bảo Ngọc ký vào ô của mình, rồi đẩy tờ giấy sang cho Đức ký tiếp, như một việc hiển nhiên.
Ngày tháo rào thông xe, ban tổ chức dựng sân khấu nhỏ, có cắt băng, có hoa tươi, có lãnh đạo phát biểu. Đức không lên sân khấu. Anh đứng từ xa, cạnh hàng rào tôn cũ chưa kịp tháo, nơi đêm nào anh cũng đứng nhìn vào trong.
Dòng xe đầu tiên lăn bánh qua cầu. Một chiếc xe buýt, vài chiếc ô tô, rồi hàng loạt xe máy nối đuôi nhau. Trong số đó có một người đàn ông chở đứa con nhỏ, đứa bé ngồi sau ôm eo bố, cặp sách lủng lẳng sau lưng. Hai bố con không nhìn xuống chân trụ, không nhìn ai cả. Họ chỉ đi qua, như người ta vẫn đi qua mọi cây cầu, với niềm tin rằng nó sẽ đứng vững.
Không ai trên cây cầu ấy biết Đức từng bị ném hợp đồng xuống chân, từng thức trắng bên lõi khoan, từng bị gọi là kẻ phá dự án. Không ai biết về mẻ bê tông số 38, về cơn mưa mười bảy phút, về chiếc thùng mẫu chôn dưới gốc bạch đàn. Nhưng anh biết. Và cây cầu biết.
Tối hôm ấy, Đức quay lại công trường lần cuối, trước khi bàn giao lán chỉ huy. Trời lại mưa nhẹ, mưa phùn đầu đông mỏng như sương. Anh đi xuống gầm cầu, bật đèn pin, soi dọc thân trụ P7 mới đổ. Mặt bê tông xám mịn, đều màu, nước mưa trượt xuống thành từng dòng trong veo. Anh tìm mãi, không thấy một vết nứt nào.
Anh đứng đó rất lâu, nghe tiếng xe chạy rì rầm trên đầu, đều và êm như tiếng thở của một thành phố. Đây chưa bao giờ là chuyện ai cướp công của anh, ai ném hợp đồng vào chân anh. Đây là chuyện những người đi qua phía trên kia có về nhà an toàn hay không.
Trước khi ra về, anh ghé qua tấm bảng thông tin công trình dựng ở chân cầu. Trên bảng nội bộ của dự án, bên dưới tên chủ đầu tư, tên nhà thầu, tên đơn vị tư vấn giám sát, là danh sách đội hiện trường được ghi đầy đủ họ tên, từ kỹ sư đến công nhân đo độ sụt, từ thợ sắt đến bác bảo vệ già giữ cuốn sổ ra vào. Tên Nguyễn Văn Hòa nằm ở dòng thứ mười bốn. Tên Lê Minh Đức nằm ở dòng đầu, không to hơn, không đậm hơn những cái tên khác.
Đức đưa tay chạm lên vành mũ bảo hộ, thở ra một hơi dài, hơi thở mờ đi trong không khí lạnh.
Chiến thắng của anh không phải là khiến Hoàng Phúc quỳ xuống. Chiến thắng là mỗi người qua cầu, sáng mai và năm mươi năm sau, không cần biết mình từng được cứu khỏi một chữ ký gian dối.