Chương 4: Mùa hái đến sớm mười bảy ngày

Năm thứ hai, mùa hái đến sớm mười bảy ngày.

Không ai vui.

Người ngoài có thể nghĩ cây ra búp sớm nghĩa là thêm một mùa, thêm tiền.

Người trong nghề biết thời điểm quan trọng không kém sản lượng.

Búp bật khi đêm còn đủ lạnh thường tích hương khác búp lớn vội trong nắng sớm.

Hà Miên gọi tôi lúc 4 giờ 36 sáng.

“Trạm thấp đã qua ngưỡng nhiệt tích lũy.”

“Nói tiếng người.”

“Cây có thể bật nhanh trong ba ngày tới.”

Tôi lên đồi.

Đúng.

Những đầu búp bạc đã nhô ra hàng loạt.

Vấn đề là lịch mua hàng của thương lái vẫn ở hai tuần sau.

Nếu chờ, búp già.

Nếu hái sớm, nhà sao không đủ nhân lực.

Nếu hái toàn bộ để chạy theo cây, chúng tôi phá luôn kế hoạch nghỉ và thử nghiệm.

Hoàng Sử nói:

“Hái hết.”

Tôi hỏi:

“Nhà sao chứa được?”

“Thuê thêm.”

“Người?”

“Gọi dưới huyện.”

“Họ có biết hái một tôm hai lá ở cây cổ?”

“Dạy.”

Sính chen:

“Không hái thì lá mất giá trước mắt. Anh Tuấn đừng lấy cây nhà người khác làm thí nghiệm.”

Đây là lúc dữ liệu không thể tự ra quyết định.

Hà Miên chỉ cho biết mùa đang đến sớm.

Nó không nói chúng tôi nên ưu tiên thu nhập, chất lượng hay sức cây ở tỷ lệ nào.

Cuối cùng, chúng tôi chia ba.

Cây nghỉ tiếp tục nghỉ theo hợp đồng.

Cây trung niên hái trước, vì khả năng phục hồi tốt hơn.

Cây già chỉ hái chọn ở phần tán khỏe, bỏ búp ở cành suy yếu.

Và thay vì cố làm toàn bộ thành trà “premium”, phần lá bị hái muộn hơn được làm dòng trà uống hằng ngày, bán đúng phẩm cấp.

Hoàng Sử phản đối:

“Một vùng trà nổi tiếng mà bán loại thường sẽ hạ thương hiệu.”

Tôi hỏi:

“Hay chúng ta gọi tất cả premium rồi để khách tự phát hiện không phải?”

Ông không trả lời.

Đây là một thay đổi khó hơn kỹ thuật.

Suốt nhiều năm, người ta đã quen giá trị trà nằm ở câu chuyện khan hiếm.

“Cổ thụ.”

“Đầu mùa.”

“Một năm vài trăm ký.”

Nhưng nếu khí hậu làm mùa biến động, việc ép mọi lá vào cùng một nhãn cao cấp chỉ khiến người trồng phải nói dối về thứ họ không kiểm soát.

Tôi đề nghị hệ thống phân hạng theo mùa thực tế.

Không cố giữ hương vị y hệt năm trước.

Mỗi lô ghi rõ ngày hái, điều kiện mùa và mục tiêu chế biến.

Một người mua từ Hà Nội nghe xong nói:

“Khách không muốn đọc thời tiết. Họ muốn biết loại nào ngon nhất.”

Tôi đáp:

“Vậy anh nếm rồi chọn.”

“Nhưng thương hiệu cần nhất quán.”

“Cây không phải nhà máy.”

“Rượu vang vẫn giữ thương hiệu theo niên vụ.”

Người mua cười:

“Anh đang muốn biến trà thành rượu vang?”

“Không.”

“Tôi muốn ngừng giả vờ nông sản không có niên vụ.”

Năm đó chúng tôi thử bán ba lô khác nhau.

Lô A: cây già, hái chọn sớm, sản lượng rất ít.

Lô B: cây trung niên, hương thanh, giá vừa.

Lô C: trà uống hằng ngày, không gắn chữ cổ thụ nếu nguyên liệu không phải.

Kết quả khiến tôi bất ngờ.

Lô A bán nhanh nhưng không tạo phần lớn doanh thu.

Lô B bán nhiều nhất.

Lô C giúp các hộ có đầu ra cho phần lá trước đây thường bị ép giá hoặc trộn vào lô cao cấp.

Sính là người hưởng lợi rõ.

Nhà anh không còn phải cố lấy hết búp từ bảy cây già để đủ tiền.

Hai cây nghỉ được bù.

Phần trà trung niên nhà anh bán qua lô B.

Thu nhập không tăng đột biến.

Nhưng bớt phụ thuộc vào bảy cây.

Anh tới nhà sao, đặt trước mặt tôi một túi ngô.

“Mẹ tôi gửi.”

“Sao?”

“Bảo cảm ơn.”

“Vì?”

“Năm nay không phải hái trộm ban đêm.”

Tôi im.

Câu đó làm tôi vui hơn mọi bài báo.

Nhưng mùa hái sớm cũng lộ một vấn đề khác.

Những cây con mọc tự nhiên dưới tán có thời điểm bật búp khác cây cổ.

Một số cây trẻ chịu nóng tốt hơn.

Hương không giống cây già.

Không có “khói đá” sâu.

Nhưng vị sáng, sạch, hậu ngọt.

Hoàng Sử nói:

“Nhổ đi. Không đúng giống cổ.”

Hà Miên hỏi:

“Ai xác nhận không đúng?”

“Nhìn lá.”

“Cây con có thể là biến dị tự nhiên hoặc lai trong quần thể.”

“Vậy càng không giữ. Mất bản sắc.”

Đây là cuộc tranh luận lớn tiếp theo.

Nếu chỉ giữ những cây giống hệt mẫu cũ, chúng tôi có thể giữ bản sắc ngắn hạn nhưng bỏ mất những cá thể thích nghi tốt hơn.

Nếu để tất cả phát triển, cấu trúc vùng trà sẽ đổi.

Tôi nghĩ tới cha.

Ông giữ giống bằng mắt và kinh nghiệm.

Nhưng ông cũng từng để lại một câu:

Cây nào sống được qua rét thì đừng vội chặt.

Thời ông, thử thách là rét.

Thời chúng tôi, có thể là nóng.

Chúng tôi đánh dấu 47 cây con.

Không nhân giống đại trà.

Không nhổ.

Theo dõi.

Mỗi năm nếm riêng.

Ghi sức sống.

Nếu sau vài mùa có cá thể vừa chịu nóng vừa cho trà tốt, cộng đồng mới quyết định có nhân hay không.

Hoàng Sử lắc đầu.

“Đến lúc đó tôi già rồi.”

Cụ Mẩy ngồi gần đó đáp:

“Làm cây lâu năm mà chỉ tính lúc mình còn trẻ thì trồng làm gì.”

Không ai cãi cụ.

Cuối mùa, tôi pha ba chén.

Một từ cây cổ.

Một từ cây trung niên.

Một từ cây con số 17.

Chén cây con không giống trà của cha tôi.

Tôi từng nghĩ điều đó là thất bại.

Lần đầu tiên, tôi tự hỏi có khi nó chỉ là tương lai chưa có tên.

Home Trước Sau
Cài đặt Đọc truyện
Cỡ chữ
Kiểu Chữ
Phông Nền
💬 Bình luận đoạn
Đang tải bình luận...