Chương 4 / 8 ◆ ~7 phút đọc

Chương 4: Mùa hái đến sớm mười bảy ngày

Năm thứ hai, mùa hái đến sớm mười bảy ngày. Không ai vui nổi.

Người ngoài có thể nghĩ cây ra búp sớm nghĩa là thêm một mùa, thêm tiền. Người trong nghề biết thời điểm cũng quan trọng chẳng kém sản lượng. Búp bật khi đêm còn đủ lạnh tích hương theo một cách khác hẳn búp lớn vội vàng trong cái nắng sớm.

Hà Miên gọi cho tôi lúc bốn giờ ba mươi sáu phút sáng. “Trạm thấp đã vượt ngưỡng nhiệt tích lũy.”

Tôi còn ngái ngủ. “Nói tiếng người đi.”

“Cây có thể bật búp hàng loạt trong ba ngày tới.”

Tôi khoác áo lên đồi. Cô nói đúng. Trong ánh sáng xám nhờ, những đầu búp phủ lông bạc đã nhô ra khắp các cành. Vấn đề là lịch thu mua của thương lái vẫn nằm ở hai tuần sau. Nếu chờ, búp sẽ già. Nếu hái sớm, nhà sao không đủ người. Còn nếu hái tất cả để chạy theo cây, chúng tôi sẽ phá luôn kế hoạch cho cây nghỉ và các thử nghiệm đang làm dở.

Buổi họp sáng hôm ấy diễn ra ngay trong nhà sao, giữa mùi củi và mùi chè mốc từ đống nia cũ.

“Hái hết,” Hoàng Sử nói.

“Nhà sao chứa được không?” tôi hỏi.

“Thuê thêm.”

“Người đâu?”

“Gọi dưới huyện lên.”

“Họ có biết hái một tôm hai lá trên cây cổ không?”

“Thì dạy.”

Sính chen vào: “Không hái thì lá mất giá ngay trước mắt. Anh Tuấn đừng lấy cây nhà người khác ra làm thí nghiệm.”

Đây là lúc dữ liệu không thể tự đưa ra quyết định. Những con số của Hà Miên chỉ cho biết mùa đang đến sớm, chứ không nói chúng tôi nên ưu tiên thu nhập, chất lượng hay sức khỏe của cây theo tỷ lệ nào.

Cuối cùng, chúng tôi chia làm ba. Cây nghỉ tiếp tục nghỉ theo hợp đồng. Cây trung niên được hái trước, vì khả năng phục hồi tốt hơn. Cây già chỉ hái chọn ở phần tán khỏe, bỏ qua búp trên những cành đã suy yếu. Và thay vì cố biến toàn bộ thành trà cao cấp, phần lá hái muộn hơn được làm thành dòng trà uống hằng ngày, bán đúng với phẩm cấp của nó.

Hoàng Sử phản đối: “Một vùng trà nổi tiếng mà bán hàng thường thì hạ thương hiệu.”

“Hay chúng ta cứ gọi tất cả là cao cấp, rồi để khách tự phát hiện ra là không phải?” tôi hỏi lại.

Ông không trả lời.

Đây là một thay đổi khó hơn mọi chuyện kỹ thuật. Suốt nhiều năm, người ta đã quen tin rằng giá trị của trà nằm ở câu chuyện khan hiếm: “cổ thụ”, “đầu mùa”, “một năm chỉ vài trăm ký”. Nhưng nếu khí hậu khiến mùa vụ biến động, việc nhồi mọi lá trà vào cùng một nhãn cao cấp chỉ buộc người trồng phải nói dối về những điều họ không kiểm soát được. Tôi đề nghị phân hạng theo mùa thực tế, không cố giữ hương vị y hệt năm trước. Mỗi lô ghi rõ ngày hái, điều kiện mùa và mục tiêu chế biến.

Một người mua lâu năm từ Hà Nội nghe xong thì lắc đầu. “Khách không muốn đọc dự báo thời tiết. Họ chỉ muốn biết loại nào ngon nhất.”

“Vậy anh cứ nếm rồi chọn.”

“Nhưng thương hiệu cần nhất quán.”

“Cây đâu phải nhà máy. Rượu vang vẫn giữ được thương hiệu theo từng niên vụ đấy thôi.”

Anh ta bật cười. “Anh định biến trà thành rượu vang à?”

“Không. Tôi chỉ muốn thôi giả vờ rằng nông sản không có niên vụ.”

Năm đó chúng tôi thử bán ba lô khác nhau. Lô A là trà cây già, hái chọn sớm, sản lượng rất ít. Lô B là trà cây trung niên, hương thanh, giá vừa phải. Lô C là trà uống hằng ngày, không gắn chữ cổ thụ nếu nguyên liệu không đúng như vậy. Kết quả làm tôi bất ngờ. Lô A bán hết nhanh nhưng không đem lại phần lớn doanh thu. Lô B bán chạy nhất. Còn lô C cho các hộ một đầu ra cho phần lá xưa nay vẫn bị ép giá hoặc bị trộn lẫn vào lô cao cấp.

Sính là người được lợi rõ nhất. Nhà anh không còn phải vắt hết búp từ bảy cây già để đủ tiền. Hai cây nghỉ được bù, phần trà từ cây trung niên bán qua lô B. Thu nhập không tăng vọt, nhưng bớt lệ thuộc vào bảy cây cổ.

Một buổi chiều cuối mùa, anh ghé nhà sao, đặt trước mặt tôi một túi ngô còn nguyên bẹ.

“Mẹ tôi gửi.”

“Sao lại thế?”

“Bà bảo cảm ơn.”

“Vì chuyện gì?”

Sính nhìn ra ngoài cửa, giọng thấp xuống. “Năm nay không phải đi hái trộm ban đêm.”

Tôi im lặng. Câu ấy khiến tôi vui hơn mọi bài báo từng viết về Tây Côn Lĩnh.

Nhưng mùa hái sớm cũng làm lộ ra một vấn đề khác. Những cây con mọc tự nhiên dưới tán có thời điểm bật búp khác cây cổ. Một số cây non chịu nóng tốt hơn hẳn. Hương của chúng không giống cây già, không có lớp khói đá sâu, nhưng vị sáng, sạch, hậu ngọt.

Hoàng Sử nói: “Nhổ đi. Không đúng giống cổ.”

Hà Miên hỏi: “Ai xác nhận là không đúng?”

“Nhìn lá là biết.”

“Cây con có thể là biến dị tự nhiên hoặc lai ngay trong quần thể.”

“Thế thì càng không nên giữ. Mất bản sắc.”

Đó là cuộc tranh luận lớn tiếp theo. Nếu chỉ giữ những cây giống hệt mẫu cũ, chúng tôi có thể giữ được bản sắc trong ngắn hạn, nhưng lại bỏ mất những cá thể thích nghi tốt hơn. Còn nếu để tất cả cùng phát triển, cấu trúc của cả vùng trà sẽ thay đổi.

Tôi nghĩ tới cha. Ông giữ giống bằng mắt và bằng kinh nghiệm, nhưng ông cũng để lại một câu trong sổ: “Cây nào sống được qua rét thì đừng vội chặt.” Thời của ông, thử thách là cái rét. Thời của chúng tôi, có lẽ là cái nóng.

Chúng tôi đánh dấu bốn mươi bảy cây con. Không nhân giống đại trà, cũng không nhổ bỏ, chỉ theo dõi. Mỗi năm nếm riêng từng cây, ghi lại sức sống. Nếu sau vài mùa có cá thể vừa chịu nóng tốt vừa cho trà ngon, khi ấy cộng đồng mới quyết định có nhân giống hay không.

Hoàng Sử lắc đầu. “Đến lúc đó thì tôi già rồi.”

Cụ Mẩy ngồi gần đó, không ngẩng lên, đáp: “Làm cây lâu năm mà chỉ tính lúc mình còn trẻ thì trồng làm gì.”

Không ai cãi lại cụ.

Cuối mùa, tôi pha ba chén: một từ cây cổ, một từ cây trung niên, một từ cây con mang số mười bảy. Chén của cây con không giống trà của cha tôi. Tôi từng nghĩ điều đó là thất bại. Lần đầu tiên, tôi tự hỏi biết đâu nó chỉ là một tương lai chưa có tên.

Đã đọc xong

Chương 4 / 8

Câu chuyện vẫn còn phía trước.

Đọc chương tiếp
Home Trước Sau
Đọc tiếp chỗ đang dở? Bạn đã đọc một phần chương này.
Cài đặt Đọc truyện
Cỡ chữ
Giãn dòng
Độ rộng trang đọc
Kiểu Chữ
Phông Nền
💬 Bình luận đoạn
Đang tải bình luận...