Chương 6: Năm không có trà đầu mùa
Năm thứ tư, chúng tôi mất gần như toàn bộ trà đầu mùa.
Không phải vì sâu.
Không phải vì người phá.
Một đợt rét muộn tới sau khi ba ngày nóng đã kích búp bật hàng loạt.
Đêm đầu tiên, nhiệt xuống sát ngưỡng đóng sương.
Sáng ra, búp non xám đầu.
Đêm thứ hai lạnh hơn.
Đến ngày thứ ba, những búp đẹp nhất cong lại như bị lửa lạnh liếm qua.
Tôi đứng giữa đồi lúc sáu giờ sáng.
Không ai nói gì.
Đây là kiểu thiệt hại không có kẻ để giận.
Hoàng Sử đá một hòn đá xuống dốc.
“Thế là xong.”
Sính nhìn hai cây nghỉ của nhà mình.
Những cây đó cũng bị.
Anh quay sang tôi.
“Nghỉ ba năm rồi cũng thế.”
Tôi nghe ra không phải trách.
Là tuyệt vọng.
Quỹ cây nghỉ đủ bù phần không hái theo kế hoạch.
Không đủ bù cả một mùa thiên tai.
Tour du lịch cũng giảm vì rừng trà không có búp đẹp.
Đơn hàng lô A phải hủy.
Đây là lần đầu mô hình mới của chúng tôi bị thử thật sự.
Và nó lộ ra lỗ thủng.
Chúng tôi đã thiết kế quỹ cho bảo tồn.
Chưa thiết kế cho biến động cực đoan.
Người mua nói:
“Năm nay không có hàng thì năm sau gặp lại.”
Nghe bình thường.
Nhưng người trồng không thể bỏ ăn một năm.
Hà Miên đề nghị lập quỹ rủi ro mùa vụ.
Hoàng Sử cười cay:
“Lại quỹ.”
“Tiền đâu?”
Tôi không muốn trả lời bằng tài trợ.
Một cộng đồng không thể sống mãi nhờ người ngoài thấy câu chuyện đáng thương.
Chúng tôi mở sổ doanh thu ba năm.
Phần trà cao cấp có biên lợi nhuận tốt nhất.
Du lịch tạo nguồn phụ.
Giống nghiên cứu bắt đầu có phí nhỏ.
Tôi đề nghị từ năm sau trích cố định một tỷ lệ vào quỹ rủi ro.
Năm nay chưa có quỹ, phải làm cách khó hơn.
Hợp tác xã tạm dừng kế hoạch xây nhà sao lớn.
Tiền để lại hỗ trợ hộ thiếu nhất.
Các hộ khá hơn nhận hỗ trợ thấp hơn.
Không chia đều.
Cuộc họp nổ ngay.
“Cùng mất mùa sao nhà tôi nhận ít?”
“Vì nhà anh có thu nhập du lịch và đàn bò.”
“Tôi làm thêm mới có. Giờ bị phạt vì chăm chỉ?”
Lập luận không vô lý.
Chúng tôi phải tách hai thứ:
Bồi thường thiệt hại không thể trả đủ cho tất cả.
Hỗ trợ khẩn cấp phải ưu tiên khả năng sống qua mùa.
Quỹ hiện có không gọi là “bồi thường”.
Gọi đúng là cứu trợ sinh kế.
Ai cần hơn nhận trước.
Để giảm cảm giác tùy tiện, tiêu chí được viết công khai:
Thu nhập ngoài trà.
Số người phụ thuộc.
Nợ ngắn hạn.
Thiệt hại thực tế.
Khả năng tiếp cận nguồn khác.
Không hoàn hảo.
Nhưng ít nhất người bị từ chối biết vì sao.
Nhà Sính thuộc nhóm nhận cao.
Anh nhìn bảng, không vui.
“Tôi không thích bị ghi là nhà khó khăn.”
Tôi hiểu.
Hỗ trợ có thể làm người ta thấy mình bị xếp hạng nghèo.
Chúng tôi đổi cách công bố.
Không treo mức từng hộ.
Chỉ công khai tiêu chí, tổng tiền và hội đồng xét.
Mỗi hộ nhận quyết định riêng, có quyền khiếu nại.
Đó là những chi tiết không ai đưa vào video về trà cổ thụ.
Nhưng một vùng nguyên liệu sống được hay không lại nằm nhiều ở đây.
Rồi chúng tôi phải nghĩ cách kiếm tiền trong năm gần như không có trà đầu mùa.
Tôi đề nghị bán thứ chúng tôi có nhiều nhất:
Không phải lá.
Là kiến thức về một mùa mất.
Hà Miên tưởng tôi đùa.
Tôi nói:
“Tour năm nay không gọi mùa trà.”
“Gọi mùa rừng phục hồi.”
Khách được xem búp bị rét.
Nghe vì sao nóng sớm rồi rét muộn nguy hiểm.
Tham gia trồng cây che.
Nếm các niên vụ cũ để thấy khác biệt.
Không bán bi kịch.
Bán hiểu biết.
Tour nhỏ.
Không cứu cả vùng.
Nhưng tạo việc cho một số hộ.
Các hộ khác chuyển một phần sang mật ong rừng, dược liệu dưới tán, làm giống cây che, sửa đường du lịch.
Tôi không muốn biến trà thành thứ phụ.
Nhưng phụ thuộc 90% thu nhập vào một đợt búp ngày càng bất định rõ ràng là nguy hiểm.
Cuối năm đó, thu nhập toàn vùng giảm mạnh.
Không có happy ending giả.
Một số thanh niên xuống thành phố làm việc.
Hai hộ bán bớt đất.
Một quán homestay đóng.
Quỹ cứu trợ chỉ giúp không ai phải bán cây cổ ngay trong cơn hoảng.
Với tôi, đó đã là một thắng lợi nhỏ.
Hà Miên ở lại đến cuối mùa.
Một đêm, chúng tôi ngồi trong nhà sao trống.
Không có lá để sao.
Chiếc chảo của cha tôi lạnh.
Cô hỏi:
“Anh có nghĩ nên bỏ trà không?”
Tôi đáp quá nhanh:
“Không.”
Rồi nghĩ lại.
“Nhưng nếu một ngày cây không còn phù hợp hoàn toàn ở đây, tôi không muốn con cháu phải nghèo chỉ để giữ một bức ảnh về chúng ta.”
Hà Miên nhìn tôi.
“Anh vừa nói điều ba năm trước anh sẽ ghét.”
“Ba năm trước tôi tưởng bảo vệ truyền thống là giữ nguyên.”
“Giờ?”
“Có khi là giữ quyền được thay đổi mà không mất hết.”
Năm không có trà đầu mùa dạy tôi nhiều hơn năm được giá nhất.
Nó dạy rằng khả năng thích nghi không nằm ở việc một cây chịu nóng tốt.
Nó nằm cả ở việc một gia đình có nguồn thu khác.
Một hợp tác xã có quỹ dự phòng.
Một người mua chấp nhận niên vụ thay đổi.
Và một vùng trà có thể nói “năm nay không có” mà không cần trộn lá, nói quá hay vắt kiệt cây để giữ thể diện.