Chương 8: Buổi Triển Lãm Không Có Tên Kẻ Trộm
Bốn tháng sau, triển lãm đầu tiên của lò Phạm khai mạc trong một căn nhà cổ ở Bát Tràng. Đó là ngôi nhà gỗ lim năm gian của một dòng họ làm gốm đã thôi nghề, tường gạch nung trần, mái ngói mũi hài phủ rêu. Chủ nhà là cháu nội cụ Thìn, nghe chuyện lò Phạm thì cho thuê lại với giá tượng trưng, chỉ dặn một câu: “Đừng treo đèn nháy.”
Duy An không treo đèn nháy. Anh cũng không treo băng rôn, không in ảnh Gia Khiêm, không đặt tiêu đề giật gân nào về phản bội hay trả thù. Có mấy công ty truyền thông gọi điện đề nghị làm chiến dịch quảng bá với khẩu hiệu “Người thợ bị đuổi việc lật đổ ông chủ”, anh từ chối hết. Hoài Phương nghe kể, chỉ nhận xét một câu: “Lựa chọn tốn tiền, nhưng đúng.”
Gian chính của căn nhà cổ được để gần như trống. Ánh sáng lấy từ những ô cửa gỗ mở ra sân, chỉ thêm vài ngọn đèn vàng hắt thấp. Duy An chỉ trưng bày những thứ đã đi cùng anh qua mấy tháng vừa rồi: những cuốn sổ lò, mảnh xương men khắc dấu, những chiếc chén thử hỏng xếp theo thứ tự thất bại, và những chiếc bình đã qua kiểm định, men xanh chìm, rạn mảnh như sương.
Phạm Duy An không có thói quen giải thích nghề bằng khẩu hiệu, nên mỗi món trưng bày chỉ có một tấm thẻ nhỏ viết tay. Ở bàn đầu tiên, ngay cửa vào, anh đặt mảnh chén vỡ ngày đầu, mảnh gốm đã rạch tay anh hôm Gia Khiêm hất khay men xuống nền gạch. Bên cạnh là cuốn sổ lò năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám, mở ra trang có dấu tay son của ông nội, đặt dưới tấm kính. Kế đó là một tấm bảng giải thích ngắn về quyền sở hữu tri thức của thợ thủ công, và bản sao phụ lục hợp đồng ghi tên từng người làm. Anh xếp chúng chậm rãi như đặt một người thân.
Tấm thẻ dưới mảnh chén vỡ chỉ ghi: “Mẻ 312. Không ra lò được.” Không ai hiểu vì sao một mảnh vỡ lại được đặt ở vị trí trang trọng nhất, cho đến khi đọc hết căn phòng và quay lại.
Ngày khai mạc, phóng viên đến khá đông. Có cả báo trung ương, có kênh truyền hình bên Nhật đi theo đoàn của tập đoàn khách sạn. Một nữ phóng viên trẻ, cầm máy ghi âm, đứng trước dãy bình rất lâu rồi mới hỏi: “Anh An, cả nước đều biết câu chuyện của anh. Vì sao trong triển lãm này, anh không nhắc đến tên người đã cướp công anh?”
Duy An nhìn dãy bình dưới ánh đèn vàng. Ánh sáng làm lớp men như có nước chảy bên dưới. Anh đáp, giọng bình thường như đang nói về thời tiết: “Người trộm nghề không xứng đứng chung phòng với nghề.”
Câu ấy được đăng lên mạng ngay tối hôm đó, và được chia sẻ nhiều hơn mọi lời mắng chửi từng xuất hiện trong suốt vụ việc. Có người in nó lên áo phông. Có lò gốm ở Phù Lãng treo nó trước cửa xưởng. Duy An biết chuyện thì chỉ lắc đầu cười, bảo Tùng gỡ bài đăng nào lấy ảnh lò Phạm để bán áo.
Hoài Phương đặt phần hồ sơ pháp lý ở một góc riêng, gian nhỏ phía đông, nơi ngày xưa chủ nhà cất sổ sách. Ở đó có bản sao biên bản niêm phong mẫu ngày đầu với chữ ký ba bên, kết quả kiểm định của phòng thí nghiệm, kết luận giám định mực, và hợp đồng cung ứng có phụ lục ghi tên đội thợ. Cô muốn khách hiểu rằng một món gốm đẹp không chỉ đến từ lửa, mà còn từ việc người làm ra nó được bảo vệ khỏi lòng tham.
Lúc đầu Duy An ngần ngại. Anh sợ góc ấy làm triển lãm nặng nề, giống một phiên tòa. Nhưng rồi anh đồng ý. Anh muốn người mua hiểu giá trị thật không nằm ở câu chuyện bi kịch, mà ở cách nghề được đối xử tử tế sau bi kịch. Ngày khai mạc, gian phía đông lại là nơi đông khách đứng lâu nhất. Có một nhóm sinh viên luật ngồi bệt dưới sàn, chép tay từng trang.
Ở gian phía tây, ba người thợ trẻ thay nhau trực, mỗi người đứng cạnh những chiếc bình do chính tay mình làm. Quyên ngượng nghịu khi lần đầu bị khách hỏi tên, lí nhí mãi mới nói được. Đến ngày thứ hai, cô đã tự tin giải thích vì sao vân rạn trên chiếc bình của mình mảnh hơn chiếc bên cạnh. Lâm thì chụp ảnh tấm thẻ ghi tên mình gửi về cho mẹ ở quê, kèm một dòng tin nhắn ngắn: “Con có tên trên đồ rồi.” Duy An đứng từ xa nhìn họ, thấy lòng nhẹ hơn mọi lời khen của báo chí.
Về Gia Khiêm, người ta chỉ biết vụ việc của hắn đã được chuyển sang cơ quan điều tra, xưởng Vũ Gia đóng cửa lò từ tháng trước, một nửa số thợ còn lại đã sang các lò khác trong làng. Mỹ Hân hợp tác khai báo, được cho tại ngoại. Không ai trong triển lãm nhắc đến họ. Cánh cửa căn nhà cổ mở rộng suốt ngày, nhưng có những cái tên tự đứng ngoài.
Chiều ngày thứ ba, Duy An đang đứng ở gian chính thì nhìn thấy một bóng người qua ô kính cửa sổ. Mỹ Hân đứng ngoài cổng, áo khoác màu be, tóc buộc thấp, không trang điểm. Cô đứng rất lâu, nhìn vào trong qua cánh cổng gỗ để ngỏ, nhưng không bước vào. Vài người khách đi ngang qua, có người nhận ra cô, thì thầm với nhau rồi đi tiếp.
Không ai đuổi cô, cũng không ai mời vào. Duy An đứng yên. Anh nghĩ đến đoạn ghi âm trong chiếc điện thoại cũ của ông nội, đến câu cô từng nói, rằng sau này nổi tiếng thì phải mời cô uống trà bằng chén men ấy đầu tiên. Chiếc chén đầu tiên giờ nằm trên bàn thờ ông nội anh. Cánh cửa mở, nhưng danh dự không phải thứ cứ bước qua là lấy lại được.
Một lúc sau, Mỹ Hân cúi đầu, quay lưng rời đi. Bóng cô khuất sau hàng rào dâm bụt. Duy An thấy bóng ấy qua kính, rồi quay sang một cậu bé chừng tám tuổi đang kiễng chân nhìn chiếc bình lớn nhất. Anh ngồi xuống ngang tầm cậu bé, cầm một chiếc chén thử đặt vào lòng bàn tay nhỏ xíu, rồi dùng móng tay gõ nhẹ vào thành chén. “Nghe này. Tiếng trong và dài là gốm tốt. Tiếng đục là gốm có vết nứt bên trong, mắt không thấy được đâu.”
Cậu bé áp chén lên tai, mắt tròn xoe. Rồi cậu tự gõ một cái, cười toe toét. Duy An bỗng nhớ đến ông nội, nhớ cái ngày ông đặt chiếc chén đầu tiên vào tay anh, cũng ngồi xổm như thế này. Nghề không truyền bằng sổ. Sổ chỉ giữ cho nghề không bị đánh cắp. Nghề truyền bằng những lần ngồi xổm như vậy.
Tuần thứ hai của triển lãm, đơn hàng thứ hai đến. Lần này là một chuỗi lữ quán truyền thống ở Kyoto và Kanazawa, những nơi khách ngủ trên chiếu, ăn trên khay gỗ, uống trà trong chén đất. Người đại diện của họ đến xem triển lãm ba lần, lần nào cũng đứng rất lâu ở gian phía đông. Họ không đòi giảm giá, chỉ yêu cầu một điều: mỗi bộ chén phải kèm một tấm thẻ kể nguồn gốc men, ghi tên lò, tên người thợ làm ra bộ đó.
Duy An không ký ngay. Anh đưa bản hợp đồng cho đội pháp lý mà Hoài Phương giới thiệu đọc trước, đọc từng điều khoản, đặc biệt là điều khoản về quyền sử dụng câu chuyện nguồn gốc và tên tuổi đội thợ. Hai tuần sau anh mới ký. Anh đã học được rằng một chữ ký sạch có thể bảo vệ cả đời làm nghề, còn một chữ ký vội có thể xóa tên cả ba đời người.
Đêm xuống, căn lò cũ bên sông Hồng lại đỏ lên như một con mắt thức. Duy An về lò sau một ngày dài ở triển lãm, ngồi xuống chiếc ghế đẩu quen thuộc trước miệng lò. Bên cạnh, lò mới đang nung mẻ hàng cho đơn thứ hai, Tùng và Quyên thay nhau canh, thỉnh thoảng nghiêng đầu nghe tiếng đất co lại. Anh nghe mùi tro rơm ẩm trộn với hơi đất nóng. Anh nhớ ngày bị Mỹ Hân quay lưng, nhớ khay men vỡ dưới gót giày Gia Khiêm, nhớ những người thợ cúi xuống. Anh không trách họ mãi. Nhưng anh cũng chưa từng cho phép nỗi sợ ấy trở thành luật của làng, và giờ làng đã có luật khác.
Đêm cuối triển lãm, khi khách đã về hết và đèn trong căn nhà cổ chỉ còn một ngọn, Hoài Phương tìm đến chỗ Duy An đang thu dọn. Cô đứng trước bàn đầu tiên, nơi mảnh chén vỡ ngày đầu từng nằm. Chỗ ấy giờ trống, chỉ còn tấm thẻ viết tay “Mẻ 312. Không ra lò được.”
“Tôi mượn nó hai tuần trước,” cô nói, “trong lúc anh bận với đội pháp lý. Xin lỗi vì không hỏi.”
Cô mở bàn tay. Trong lòng bàn tay là một mặt dây chuyền nhỏ bằng đúng mảnh gốm ấy, được một thợ kim hoàn ở Hàng Bạc mài nhẵn bốn cạnh, khoan một lỗ nhỏ, xâu bằng sợi dây da màu nâu. Lớp men xanh xám vẫn còn, những đường rạn mảnh vẫn còn, chỉ có cạnh sắc là đã biến mất.
Duy An nhìn mặt dây rất lâu. Hoài Phương không giải thích thêm, cũng không nói lời nào ngọt ngào. Đó không phải vật đính ước lãng mạn, chỉ là một nỗi đau đã được mài tròn. Anh đưa tay nhận lấy, miết ngón cái dọc theo mép gốm, và thấy cạnh sắc không còn cứa tay nữa.