Chương 2: Bốn Đêm Thiếu Gạo
Ngày kiểm tồn đầu tiên, Phó Thanh Lam không cho ai gọi phần thiếu trong kho là “bị trộm”. Nàng trải ba cuốn sổ lên chiếc bàn thấp ngoài cửa kho, mời Chu quản sự, Lưu thẩm của nhà bếp và hai người giữ chìa khóa cùng ngồi. Bên cạnh là chiếc cân đã được thợ chỉnh lại, một bộ quả cân chuẩn mượn từ phòng thu chi và hai tờ giấy trắng để ghi số thực tế. Thanh Lam biết điều nguy hiểm nhất không phải là mất vài bao gạo, mà là kết luận quá sớm rồi ép một người thấp cổ bé họng nhận hết.
Họ đếm từng bao, cân mẫu từng lô và đánh dấu bao nào ẩm, bao nào bị chuột cắn. Gạo cũ nhẹ hơn sổ một phần nhỏ vì khô hao. Hai bao ở góc tường nặng hơn vì hút ẩm. Những chênh lệch đó được tách riêng. Sau khi trừ phần có thể giải thích, vẫn còn một lượng thiếu lặp lại ở các ngày mười hai, mười lăm, mười tám và hai mươi mốt. Cả bốn lần đều có lệnh xuất bổ sung vào cuối giờ Tuất, trong khi bếp không có phiếu lĩnh tương ứng.
Chu quản sự gõ ngón tay lên bàn. “Người giữ kho cũ khai rằng bếp thường xin thêm bằng miệng.”
Lưu thẩm lập tức lắc đầu. “Có hôm xin thêm thật, nhưng nhà bếp luôn để lại thẻ tre. Không có thẻ, ta không dám nhận.”
Thanh Lam đưa ra một chiếc thẻ tre cũ. Mỗi thẻ có hai nửa khớp răng cưa: bếp giữ một nửa, kho giữ một nửa. Khi lĩnh hàng thì ghép lại, ghi số lượng và đóng dấu. Cách làm vốn đã có, chỉ vì lâu ngày mọi người tin nhau nên bỏ qua. Nàng không phát minh ra thứ gì kỳ lạ; nàng chỉ yêu cầu dùng lại đúng thứ từng được đặt ra để ngăn nhầm lẫn.
“Từ hôm nay,” Chu quản sự nói sau khi nghe nàng trình bày, “hai chìa khóa do hai người khác nhau giữ. Không được giao cả hai cho một người. Mở kho phải có mặt đủ người giữ khóa và người chép sổ. Nếu bếp cần gấp, vẫn phải có thẻ lĩnh. Mọi người nghe rõ chưa?”
Thanh Lam cúi đầu. Quyết định phải do ông ban ra, bởi nếu một nha hoàn tự đặt luật, đến khi xảy ra chuyện người đầu tiên bị đổ tội sẽ lại là nàng.
Ba ngày đầu không có gì xảy ra. Số xuất và số nhận khớp. Đêm thứ tư, một tiểu nha hoàn tên Tiểu Cúc mang đến phiếu lĩnh mười đấu gạo, nói bếp cần nấu cháo cho nhóm thợ sửa mái. Thanh Lam nhìn dấu sáp trên phiếu rồi hỏi: “Lưu thẩm đóng dấu lúc nào?”
“Vừa mới.”
“Bếp có bao nhiêu thợ?”
Tiểu Cúc chớp mắt. “Hai… hai mươi người.”
Thanh Lam không vạch ngay. Buổi chiều nàng đã đi ngang sân đông và thấy nhóm thợ chỉ có tám người. Nàng bảo người giữ kho chờ, rồi sai một nha đồng đi hỏi bếp. Câu trả lời trở lại rất nhanh: không có lệnh nấu cháo, Lưu thẩm đang ở phòng bếp và con dấu thật vẫn treo trên thắt lưng bà.
Phiếu giả.
Tiểu Cúc quỳ xuống ngay. Nàng khóc đến nấc, nói có một người đưa tiền cho em trai bệnh của nàng và bắt nàng chuyển phiếu. Nếu không làm, người đó sẽ tố cha nàng từng lấy trộm than của phủ. Thanh Lam hỏi tên người, nhưng Tiểu Cúc chỉ biết đó là một người đàn ông mặc áo xám, thường chờ ở ngõ sau vào đêm đổi ca. Nàng chưa từng thấy mặt rõ.
Chu quản sự muốn gọi hộ viện bắt người ngay trong đêm. Thanh Lam xin ông đừng làm vậy. Nếu kẻ bên ngoài biết phiếu giả đã lộ, hắn chỉ cần biến mất. Họ thống nhất giữ Tiểu Cúc ở một phòng gần bếp, không đánh đập, không để nàng tự do ra ngoài, đồng thời tung tin rằng phiếu đã được chấp nhận như thường.
Đến cuối giờ Tuất, hai người giữ khóa mở kho trước mặt Chu quản sự. Họ không lấy gạo thật mà cho vào xe hai bao trấu trộn cám, bên ngoài buộc dây giống bao gạo. Một gia đinh đánh xe ra ngõ sau theo lệ giao tro và rác bếp. Thanh Lam không đi cùng nhóm bám theo; thân phận và sức lực của nàng không phù hợp. Nàng ở lại kho cùng Lưu thẩm, ghi chính xác giờ xe rời cổng và giờ người trực cổng đổi ca.
Nửa canh giờ sau, hộ viện trở về. Họ không bắt được người áo xám, nhưng giữ được một phu xe lạ đang chờ nhận bao. Trong người hắn có ba phiếu cũ của Tĩnh An hầu phủ và một đồng tiền đồng khắc ký hiệu của một hãng vận chuyển ở phía tây thành.
Phu xe khai hắn chỉ nhận hàng thuê, mỗi chuyến chở đến một kho nhỏ ngoài chợ ngựa. Hắn không biết chủ thật. Chu quản sự lập tức muốn dẫn người đến kho kia. Thanh Lam nhắc: “Nếu tự ý xông vào, người ta có thể nói phủ mình cướp kho dân. Nên báo tuần thành hoặc Kinh Triệu phủ, ít nhất có người ngoài chứng kiến.”
Chu quản sự nhìn nàng. “Ngươi sợ ta làm lớn chuyện?”
“Tôi sợ chuyện đã lớn rồi mà mình lại làm hỏng chứng cứ.”
Sáng hôm sau, một sai dịch Kinh Triệu phủ cùng hai người của phủ Hầu đến kho nhỏ. Bên trong không có nhiều gạo, chỉ có vài bao mang dấu mờ của Tĩnh An hầu phủ và một chồng dây buộc cùng loại. Chủ kho đưa hợp đồng thuê gian cho một thương nhân tên Trương Đại, người đã trả trước ba tháng nhưng hiếm khi xuất hiện. Hồ sơ thuê có người bảo lãnh là một quản sự phụ của hiệu vải Vạn Tường.
Cái tên ấy khiến Lưu thẩm nhớ ra điều gì. Vạn Tường chính là nơi cung cấp vải lễ cho Tạ Như Ý trong đợt chuẩn bị hôn sự.
“Vậy là người của hiệu vải ăn cắp gạo?” một gia đinh hỏi.
Thanh Lam lắc đầu. “Chưa biết. Có thể chỉ mượn danh. Có thể người bảo lãnh không biết gì. Chúng ta mới có đường đi của hàng, chưa có người ra lệnh.”
Nàng xin sao lại hợp đồng thuê, còn bản gốc để Kinh Triệu phủ giữ. Phiếu giả, các nửa thẻ tre cũ và những bao tìm được đều được lập danh sách. Tiểu Cúc được lấy lời khai trước mặt Chu quản sự và một nữ quản sự khác. Nàng kể thêm rằng người áo xám luôn chọn những đêm nhà trai gửi lễ hoặc có khách lớn ra vào, vì cổng bận và người trực dễ bỏ qua xe chở hàng.
Thanh Lam trở về kho, lần theo sổ cổng của những ngày thiếu gạo. Quả nhiên cả bốn đêm đều có xe từ bên ngoài vào giao đồ cưới. Có đêm ghi rõ từ Vạn Tường, có đêm chỉ ghi “hàng lễ”. Thời gian xe rác bếp ra khỏi cổng chênh với thời điểm xe giao hàng vào chưa đầy một khắc.
Nàng khoanh bốn dòng bằng mực nhạt, không viết tên kẻ tình nghi. Một mẫu thời gian không chứng minh ai phạm tội, nhưng nó cho thấy kẻ tổ chức hiểu rất rõ nhịp vận hành của phủ.
Buổi trưa, Tạ Như Ý cho gọi Thanh Lam. Tiểu thư nằm sau rèm, giọng yếu ớt như người bệnh lâu ngày, nhưng câu đầu tiên lại thẳng đến mức khiến Thanh Lam dừng bước.
“Ngươi đang xem sổ những ngày nhà Lục gia đưa lễ?”
Thanh Lam đáp: “Vâng.”
“Đừng chỉ nhìn gạo. Xem cả vải, than, dầu đèn và xe ngựa.”
“Tiểu thư biết gì?”
Phía sau rèm im một lúc. Rồi một bàn tay trắng đưa ra, đặt trên bàn một phong thư đỏ chưa mở. Trên sáp niêm có dấu của Định Bắc hầu phủ.
“Ta biết,” Tạ Như Ý nói, “có người muốn ta lấy chồng hơn mức bình thường.”
Thanh Lam nhìn phong thư, rồi nhớ tới những chuyến xe chọn đúng đêm lễ vật đi qua. Vụ thiếu gạo bỗng không còn là một câu chuyện riêng của nhà bếp. Nhưng nàng tự ép mình giữ đầu óc tỉnh táo. Sự trùng hợp có thể mở một cánh cửa; chỉ chứng cứ nối tiếp mới cho phép bước qua.
Nàng khép cuốn sổ, nhờ Chu quản sự cho làm thêm một bảng đối chiếu giữa sổ kho, sổ cổng và lịch giao lễ. Từ hôm ấy, mỗi bao gạo ra khỏi kho đều có người nhận, giờ nhận và hai dấu xác nhận. Số thiếu dừng lại. Người trong bếp thở phào, nhưng Thanh Lam không thấy nhẹ hơn.
Nàng biết khi một lỗ rò bị bịt, kẻ đứng phía sau thường sẽ thử một con đường khác.