Chương 5: A Nhu Bên Giếng Bắc
A Nhu được tìm thấy bên giếng phía bắc vào lúc trời chưa sáng hẳn. Người phát hiện là một tiểu đồng đi lấy nước cho chuồng ngựa. Nó chạy về sân bếp, mặt trắng bệch, nói dưới giếng có tóc người. Chỉ một khắc sau, cả khoảng sân đã đầy tiếng chân và tiếng khóc. Phó Thanh Lam vừa đến nơi liền thấy một gia đinh định trèo xuống kéo thi thể lên.
“Khoan.” Nàng gần như quát rồi lập tức hạ giọng. “Gọi Chu quản sự. Đừng để ai chạm vào thành giếng hay đồ quanh đây nữa.”
Một người cau mặt. “Còn cứu được thì sao?”
Thanh Lam nhìn xuống. A Nhu nằm nghiêng trên bậc đá thấp ngay sát miệng giếng chứ không chìm sâu dưới nước; có lẽ dây gầu đã mắc vào áo khi người ta kéo lên nửa chừng. Da nàng tái, môi tím, cơ thể không còn phản ứng. Thanh Lam không đủ chuyên môn để tuyên bố chết, càng không muốn tự biến mình thành người khám nghiệm. Nàng chỉ bảo họ gọi thầy thuốc của phủ trước.
Thầy thuốc đến, kiểm mạch, đồng tử và hơi thở rồi lắc đầu. Chu quản sự lập tức cho đóng cổng sân bắc, ghi tên những người có mặt và sai người chạy đến Kinh Triệu phủ báo án. Tĩnh An hầu vốn có thể ép xử nội bộ một cái chết của người hầu, nhưng sau vụ kho gạo và lời đe dọa, ông không muốn mang tiếng giấu việc.
Thanh Lam đứng ngoài vòng dây, quan sát những thứ dễ mất nhất: một chiếc guốc nằm gần bờ tường, chiếc kia sát miệng giếng; trên nền đất có vệt kéo dài nhưng bị nhiều dấu chân mới đè lên; cạnh chân A Nhu là một mẩu dây tua màu đỏ tía. Một nha hoàn định nhặt, Thanh Lam ngăn lại bằng cách lấy chiếc rổ tre úp lên trên, không đụng vào vật.
“Cái đó giống vải của Vệ phủ,” một người thì thào.
“Giống không có nghĩa là của họ,” Thanh Lam nói. “Chờ người khám rồi ghi.”
Đến giữa giờ Mão, một ngỗ tác họ Tôn của Kinh Triệu phủ cùng hai sai dịch tới. Họ yêu cầu mọi người lùi xa, ghi hiện trạng rồi mới cho đưa thi thể ra khỏi khu giếng. Tôn ngỗ tác xem đầu, cổ tay, móng tay và quần áo. Ông chỉ nói sơ bộ rằng sau gáy có vết bầm không giống va trực tiếp vào thành giếng, cổ tay trái có dấu bị nắm mạnh, còn lượng nước trào ở miệng chưa đủ để kết luận nguyên nhân chết. Ông sẽ khám kỹ hơn tại phòng riêng, có nữ nhân trong phủ làm chứng.
Thanh Lam thấy nhẹ đi vì không ai hô ngay “bị giết”. Cái chết cần được làm rõ bằng quy trình, không phải bằng cơn giận.
Mẩu vải đỏ được gắp vào túi giấy, buộc chỉ và ghi ngày giờ. Tôn ngỗ tác hỏi ai nhận ra hoa văn. Lưu thẩm nói nó giống đường thêu trên rèm lễ mới giao từ Vạn Tường. Một phụ nhân phòng may lại bảo mẫu phượng đó khá phổ biến trong đồ cưới nhà quý tộc, không thể nhìn một mảnh nhỏ mà nói của phủ nào.
“Tốt,” viên sai dịch nói. “Vậy ghi là chưa rõ nguồn.”
Sau khi họ đi, Thanh Lam tìm tên A Nhu trong sổ công. Nàng mười chín tuổi, làm ở phòng giặt, hai tháng gần đây thỉnh thoảng được điều sang phụ nhận vải cưới. Ba ngày trước, A Nhu từng ký nhận một bó tua đỏ từ Vạn Tường. Chữ ký không phải tên đầy đủ, chỉ là dấu chữ “Nhu” nguệch ngoạc.
Chu quản sự thở dài. “Một nha hoàn phòng giặt có thể dính gì đến chuyện này?”
“Có thể không dính gì cả. Nhưng nàng ấy có tiếp xúc với lô vải. Cần xem ca làm và ai làm cùng.”
Họ gọi hai người cùng phòng. Một cô nhớ tối qua A Nhu rời gian giặt sau giờ Hợi vì nói có người nhắn đến nhận lại “một món giao nhầm”. Người đưa lời là một tiểu đồng không thuộc phòng giặt. Không ai nhớ tên, chỉ biết nó mặc áo nâu của nhóm sai vặt.
Trong phủ có hơn hai mươi đứa trẻ và thiếu niên mặc loại áo đó. Thanh Lam không yêu cầu xếp hàng nhận mặt ngay; ban đêm ánh sáng kém, trí nhớ dễ sai. Nàng xin Chu quản sự lấy danh sách ca trực của nhóm sai vặt, xem ai không có việc được phân vào khoảng giờ ấy.
Danh sách thiếu hai cái tên vì người chép sổ bỏ trống. Một là đứa trẻ đang ốm, có thầy thuốc xác nhận. Người còn lại là Đậu Tử, mười bốn tuổi, sáng nay không thấy trong phòng ngủ.
Chu quản sự lập tức cho tìm. Đến trưa, họ phát hiện Đậu Tử trốn trong kho củi ngoài viện sau, run rẩy đến mức không nói thành câu. Nó thú nhận tối qua có một người đàn ông giao tiền bảo gọi A Nhu ra cổng bắc, nói người của hiệu vải muốn nhận lại kiện tua bị giao nhầm. Nó làm xong thì sợ, vì sau đó nghe tiếng cãi nhau gần giếng.
“Người đàn ông nào?” Thanh Lam hỏi.
“Con không biết. Hắn quấn khăn, nhưng có mùi thuốc xoa rất nồng. Tay phải thiếu một đốt ngón út.”
Đặc điểm ấy được ghi vào lời khai trước mặt sai dịch Kinh Triệu phủ khi họ quay lại. Đậu Tử không bị đánh. Tĩnh An hầu đồng ý để một bà quản sự trông nom nó, tránh việc người khác tiếp cận hoặc ép đổi lời.
Buổi chiều, Tôn ngỗ tác gửi báo cáo sơ bộ. A Nhu có vết thương sau đầu xuất hiện trước khi rơi xuống nước; trong đường thở có nước, nghĩa là nàng còn sống lúc xuống giếng. Dấu bầm ở cánh tay phù hợp với việc bị giữ hoặc kéo. Thời điểm chết khoảng cuối giờ Hợi đến đầu giờ Tý. Kết luận là có dấu hiệu bị hại, nhưng cách gây thương tích và người gây ra vẫn chưa rõ.
Thanh Lam cầm bản sao, bàn tay lạnh ngắt. Vụ gạo là tài sản. Vụ ngọc bội là vu oan. Còn bây giờ một người đã chết.
Nàng nhớ A Nhu không rõ lắm. Chỉ vài lần cô gái ấy mang khăn sạch đến kho, luôn cúi đầu rất nhanh. Cảm giác tội lỗi vô lý dâng lên: nếu nàng không lần theo Vạn Tường, A Nhu có chết không? Nhưng nàng biết không thể tự nhận mọi nguyên nhân về mình. Kẻ giết người mới chịu trách nhiệm cho cái chết.
Tối đến, Như Ý gọi nàng vào. Tiểu thư đã nghe chuyện, sắc mặt lần này trắng thật.
“Ta từng nhờ A Nhu chuyển một bức thư đến phòng may,” nàng nói.
Thanh Lam ngẩng phắt lên. “Khi nào?”
“Mười ngày trước. Thư chỉ hỏi nguồn vải của bộ hỉ phục. Ta muốn biết vì sao Vệ thị lại can thiệp nhà cung ứng.”
“Ai biết?”
“Ta, bà vú, A Nhu.”
Thanh Lam nhắm mắt trong một nhịp. Đây là thông tin phải báo cho Kinh Triệu phủ, dù nó khiến Như Ý bị hỏi. Giấu đi vì sợ liên lụy sẽ phá toàn bộ chuỗi điều tra.
Như Ý hiểu trước khi nàng nói. “Tối nay ta sẽ khai.”
“Càng để lâu càng giống mình cố giấu.”
Tiểu thư gật.
Khi sai dịch quay lại, Như Ý đưa bản nháp lá thư và nói rõ mục đích. Bà vú xác nhận. Quan sai không kết luận lá thư khiến A Nhu bị giết; họ chỉ thêm nó vào hồ sơ và yêu cầu phòng may giao danh sách người đã đọc hoặc xử lý thư.
Ở phòng may, người phụ trách nhớ rằng sau khi nhận thư, bà đã hỏi một người của Vạn Tường về nguồn vải. Người ấy trả lời lô hàng do kho Tường Ký đóng. Bà còn giữ tờ báo giá có dấu của kho.
Tờ báo giá được giao cho Kinh Triệu phủ. Trên đó có chữ ký của một quản sự tên Cao Thực.
Thanh Lam nhớ ngay dòng phiếu ở chương trước: “giao thẳng cho quản sự Cao”.
Chu quản sự cũng nhớ. Ông quay sang sai dịch. “Người này tự xưng của Định Bắc hầu phủ.”
Sai dịch ghi lại, nhưng không tỏ vẻ đắc thắng. “Chúng ta sẽ hỏi Lục phủ có người tên ấy hay không.”
Kết quả đến ngay trong đêm: Định Bắc hầu phủ không có quản sự nào tên Cao Thực. Có một người từng làm chân chạy việc cho Vệ phủ mang tên ấy, nghỉ việc trên sổ từ nửa năm trước.
“Nghỉ trên sổ,” Thanh Lam nhắc lại. “Không có nghĩa đã cắt quan hệ.”
“Cũng không có nghĩa vẫn còn quan hệ,” sai dịch đáp.
Nàng gật đầu. Đó chính là điều nàng cần nghe. Mỗi bước đều phải chừa chỗ cho khả năng khác.
Đêm khuya, sân bắc bị khóa. Giếng không còn ai đến lấy nước. Trên bàn của Thanh Lam là bản sao sổ công, lịch xe, phiếu vải và tên Cao Thực được khoanh bằng một nét mực mảnh. Nàng không viết bên cạnh hai chữ “hung thủ”.
Nàng chỉ viết: “Cần xác định nơi ở, nguồn tiền, người liên lạc, lộ trình tối A Nhu chết.”
A Nhu không thể trở lại. Điều duy nhất họ còn có thể làm cho cô gái là không dùng cái chết của nàng như một cái cớ để trừng phạt nhầm một người khác.