Chương 2: Lò của cha tôi không vô tội
Mười lăm ngày đình lò dài hơn tôi tưởng.
Không có lửa, xưởng sạch một cách khó chịu.
Không tro trên bậu cửa.
Không mùi củi ẩm.
Không tiếng chú Năm quát người xếp bao nung lệch nửa đốt tay.
Nhưng cũng trong mười lăm ngày ấy, chúng tôi lần đầu nhìn cái lò như một thiết bị thay vì một thành viên trong gia đình.
Mai Lan yêu cầu vẽ lại toàn bộ đường khí.
Tôi biết lửa đi đâu bằng kinh nghiệm.
Cô muốn đo.
“Cửa này hở bao nhiêu?”
“Tùy mẻ.”
“Tùy là bao nhiêu?”
“Nhìn màu lửa.”
“Tôi hiểu. Nhưng nếu muốn giảm khói, cần biết phần nào là vận hành chủ động, phần nào là rò.”
Chúng tôi bò quanh lò với đèn pin.
Tường phía bắc có ba khe nứt nhỏ.
Ống dẫn khói ở đoạn chuyển buồng tích tro dày hơn tôi nghĩ.
Cửa nạp củi không kín.
Và khu chứa củi có gần một phần ba số thanh chưa khô đủ.
Chú Năm nói:
“Củi ẩm vẫn đốt được.”
Mai Lan đáp:
“Được. Nhưng tạo nhiều khói hơn và tốn năng lượng để bốc nước.”
“Ngày trước chúng tôi cũng đốt.”
“Ngày trước củi được phơi lâu hơn không?”
Chú Năm im.
Đúng.
Trước đây nhà tôi mua củi từ sau Tết, xếp cả mùa.
Bây giờ sản lượng cao hơn, kho nhỏ hơn, nhiều chuyến củi về sát ngày nung.
Chúng tôi vẫn gọi đó là “cách cũ”.
Nhưng thật ra chính mình đã đổi cách cũ ở những chỗ tiện lợi, chỉ giữ lại phần mang tính biểu tượng.
Tôi bắt đầu thấy khó chịu với bản thân.
Buổi chiều, Mai Lan phỏng vấn thợ.
Không có quan chức.
Không ghi tên vào biên bản công khai.
Cô hỏi đơn giản:
“Ai từng thấy khó chịu khi làm mẻ dài?”
Ban đầu không ai nói.
Rồi anh Toàn, bốn mươi sáu tuổi, nói:
“Mắt cay.”
Một người khác:
“Đêm cuối hay đau đầu.”
Chú Năm nổi nóng:
“Làm lò ai chả thế.”
Mai Lan không kết luận bệnh nghề.
Cô chỉ ghi rằng điều kiện làm việc có vấn đề cần giảm phơi nhiễm và thông gió tốt hơn.
Tôi nhìn những người đã làm cùng mình mười mấy năm.
Tôi từng nghĩ nếu họ không nghỉ việc nghĩa là họ chấp nhận.
Đó là suy nghĩ tiện cho ông chủ.
Người cần tiền có thể chịu rất nhiều thứ mà không có nghĩa họ thấy ổn.
Tối đó, tôi tới nhà chú Năm.
Ông đang xoa dầu lên đầu gối.
Tôi hỏi:
“Chú có muốn tiếp tục đứng lò thêm mười năm không?”
“Cậu định đuổi tôi?”
“Không.”
“Vậy hỏi làm gì?”
“Nếu lò đổi cách, chú có học không?”
Ông nhìn tôi.
“Gas?”
“Có thể một phần.”
“Tôi không biết.”
“Học được.”
“Cậu nói dễ.”
Ông đặt chai dầu xuống.
“Tôi mười sáu tuổi vào lò. Tôi biết nghe tiếng lửa. Biết tro bay nhìn màu nào thì cửa sau phải khép. Sang lò gas, cái tôi biết thành gì?”
Đó mới là nỗi sợ.
Không chỉ mất việc.
Mất giá trị của bốn mươi năm kỹ năng.
Tôi không thể nói “kỹ năng nào cũng chuyển đổi được” như một câu động viên rỗng.
Một số thứ thực sự sẽ mất giá nếu công nghệ đổi.
Tôi hỏi:
“Nếu giữ một lò củi, nhưng không dùng nó cho sản xuất thường ngày?”
“Thế giữ làm cảnh?”
“Không.”
“Dùng cho những dòng thật sự cần nó. Nung ít hơn, chuẩn bị kỹ hơn.”
Ông cười lạnh.
“Một năm vài mẻ thì thợ sống bằng gì?”
“Phần còn lại làm lò mới.”
“Tôi không muốn thành người bấm nút.”
“Vậy lò mới không được thiết kế để chỉ bấm nút.”
Tôi chưa biết câu đó nghĩa gì.
Nhưng biết phải tìm.
Ngày thứ bảy, chúng tôi kiểm tra hồ sơ sản phẩm hai năm.
Kết quả làm tôi xấu hổ.
Khoảng 68% sản lượng qua lò củi là hàng không cần hiệu ứng tro hay biến thiên mạnh.
Cốc men trắng.
Bộ bàn ăn.
Chậu.
Một số dòng trang trí phủ men ổn định.
Chúng tôi nung bằng củi vì lò đã có, vì khách thích nghe “nung lò củi”, và vì tôi từng nghĩ lò gas làm sản phẩm kém giá trị.
Không phải luôn vì kỹ thuật.
Mai Lan hỏi:
“Nếu chuyển 68% này đi, số mẻ củi giảm bao nhiêu?”
“Có thể còn một phần ba.”
“Khói giảm tương ứng?”
“Không tuyến tính hoàn toàn, nhưng giảm lớn.”
“Vậy câu hỏi khó còn lại là 32%.”
Đúng.
Men tro.
Một số men khử.
Hiệu ứng lửa không đều mà lò gas thông thường khó cho.
Tôi không muốn nói “không thể thay” nếu chưa thử.
Chúng tôi mượn một lò gas nhỏ của xưởng trẻ trong làng.
Nung cùng một đất, cùng một men, cùng hình.
Ba nhóm:
Lò củi cũ từ mẫu lưu.
Lò gas theo đường nhiệt gần nhất.
Lò gas có điều chỉnh khí quyển khử và thêm lớp tro men có kiểm soát.
Kết quả không đơn giản.
Men trắng: gần như không có lý do phải dùng củi.
Một dòng khử: gas làm rất tốt, ổn định hơn.
Men tro: nhìn giống ở xa nhưng dưới ánh xiên có chiều sâu khác.
Một số hiệu ứng tro bay tự nhiên không tái tạo hoàn toàn.
Chú Năm nhìn ba mẫu, nói:
“Thấy chưa.”
Tôi nói:
“Thấy.”
“Vậy đốt lại.”
“Không.”
Ông cau mày.
“Chúng ta vừa chứng minh có thứ lò củi làm riêng.”
“Và cũng chứng minh phần lớn sản lượng không cần nó.”
Ông không thích.
Nhưng không cãi được.
Ngày thứ mười hai, xã tổ chức họp làng.
Người dân tới đông hơn mọi cuộc họp nghề.
Vì lần này không chỉ nghệ nhân quyết.
Người sống cạnh lò cũng có quyền nói.
Một phụ nữ có nhà ở cuối ngõ đứng lên:
“Tôi không muốn phá nghề. Chồng tôi cũng bán hàng gốm. Nhưng hôm nào đốt lò, tôi phải đóng cửa phơi quần áo.”
Một nghệ nhân già đáp:
“Làng gốm mà sợ khói thì còn gì làng gốm?”
Cô ấy hỏi:
“Vậy làng gốm có nghĩa chúng tôi phải chịu hết?”
Không khí căng.
Tôi đứng lên.
“Lò nhà tôi có lỗi vận hành.”
Cả phòng nhìn tôi.
“Củi chưa đủ khô, đường khói có chỗ tích tro, cửa nạp hở, và chúng tôi dùng lò củi cho nhiều sản phẩm không cần thiết.”
Chú Năm cúi mặt.
Tôi tiếp:
“Nhưng có một số hiệu ứng men thật sự phụ thuộc vào lò củi. Tôi không muốn phá lò.”
“Tôi đề nghị làng thử một mô hình khác.”
Không ai vỗ tay.
Tôi cũng chưa muốn.
Đề nghị của tôi có thể khiến nhiều người mất công việc quen thuộc.
Mô hình mới phải trả lời ba việc:
Khói.
Thu nhập thợ.
Và kỹ thuật nào thật sự đáng giữ.
Nếu chỉ giải một trong ba, chúng tôi sẽ lại đẩy cái giá sang người khác.