Chương 8: Ngày Bát Tràng tắt lò củi
Năm năm sau đêm khói phủ trường học, tôi tự tay tắt lò củi nhà mình.
Không có lệnh cấm.
Không ai đến niêm phong.
Không có đối thủ đứng ngoài cười.
Chỉ là sau nhiều năm, xưởng Quang Minh không còn cần lò cũ cho sản xuất thương mại thường xuyên.
Hàng dân dụng đã chuyển hết sang gas và điện.
Những dòng khử đặc biệt dùng lò bán thủ công mới.
Mẻ di sản phần lớn sang lò cộng đồng ngoài khu dân cư.
Lò nhà tôi còn lại ba chức năng:
Dạy người mới.
Đối chiếu kỹ thuật.
Và vài mẻ rất nhỏ mà nghệ nhân muốn làm đúng trong không gian lò cũ.
Giữ lò cháy đều chỉ để chứng minh nó vẫn sống bắt đầu trở thành một dạng mê tín.
Chú Năm là người đồng ý trước tôi.
Ông tám mươi rồi.
Không đứng mẻ đêm nữa.
Nhưng vẫn tới xưởng gần như mỗi ngày.
Hôm tôi nói muốn kết thúc lịch nung thương mại ở lò nhà, chú ngồi im rất lâu.
Tôi chờ một trận mắng.
Ông hỏi:
“Có phá không?”
“Không.”
“Có bịt cửa không?”
“Không.”
“Còn dạy?”
“Có.”
“Vậy tắt thôi.”
Tôi nhìn ông.
“Chú không buồn?”
“Buồn.”
Ông nói.
“Nhưng lò không phải người. Nó không cần được đốt cho khỏi cô đơn.”
Tôi bật cười.
Năm năm trước, chính ông từng nói làng không có khói thì không còn là làng gốm.
Con người có thể thay đổi mà không cần giả vờ mình chưa từng nghĩ khác.
Mẻ thương mại cuối cùng được lên lịch vào tháng mười một.
Không phải ngày đẹp.
Là ngày có gió tốt.
Chúng tôi thông báo trước như mọi mẻ khác.
Nhưng lần này, trường tiểu học hỏi có thể cho một nhóm học sinh sang xem giai đoạn châm lò không.
Tôi hơi ngạc nhiên.
Cô hiệu trưởng từng gọi tôi đêm đầu tiên nói:
“Các em học về nghề làng. Nhưng trước đây chúng tôi chỉ dạy ‘lò củi tạo màu men đặc biệt’. Bây giờ muốn dạy cả chuyện vì sao làng phải thay đổi cách dùng lò.”
Tôi đồng ý.
Hai mươi đứa trẻ đứng sau vạch an toàn, đeo khẩu trang khi vào khu thao tác.
Một đứa hỏi:
“Chú ơi, lò này có làm ô nhiễm không?”
Ngày xưa tôi có thể nói:
“Khói gỗ tự nhiên thôi, không sao.”
Bây giờ tôi đáp:
“Có tạo khói và bụi.”
“Vậy sao vẫn đốt?”
“Vì có một số kỹ thuật gốm chưa thay được hoàn toàn bằng cách khác.”
“Thế sao không đốt nhiều?”
“Vì thứ mình quý không có nghĩa người khác phải chịu mọi cái giá của nó.”
Đứa bé gật như hiểu.
Có lẽ chưa.
Không sao.
Tôi cũng mất gần bốn mươi năm mới hiểu.
Mẻ cuối có sản phẩm của mười một nghệ nhân.
Không ai được ưu tiên vì đây là lò nhà tôi.
Mai làm trưởng mẻ.
Tôi chỉ là một trong ba người giám sát.
Chú Năm ngồi ở ghế phía sau, chăn phủ đầu gối.
Đến đoạn chuyển lửa đầu tiên, Mai hỏi:
“Chú Năm, màu này được chưa?”
Ông nheo mắt.
“Cô là trưởng mẻ.”
“Cháu hỏi ý kiến.”
“Ý kiến thì muộn ba phút.”
Mai cười.
“Biết ngay.”
Cô điều chỉnh.
Không ai thấy cần biến khoảnh khắc ấy thành trao truyền long trọng.
Đó chỉ là một người già vẫn còn biết thứ người trẻ muốn hỏi.
Ngày thứ hai, gió bất ngờ yếu đi.
Lịch dự báo đã nói có khả năng.
Chúng tôi tới ngưỡng phải quyết định giảm lửa.
Mẻ cuối.
Mọi người đều muốn đẹp.
Một nghệ nhân nói:
“Chỉ còn hai tiếng.”
Mai nhìn số liệu.
Rồi nhìn tôi.
Tôi không nói.
Cô là trưởng mẻ.
Mai ra lệnh giảm.
Một số người thất vọng.
Chú Năm không.
Ông nói:
“Đúng.”
Chỉ một chữ.
Tôi biết cô vừa vượt qua bài kiểm tra quan trọng hơn mọi chiếc bình.
Không phải giữ lửa bằng mọi giá.
Mà biết khi nào một người làm nghề phải chấp nhận mất một phần kết quả để giữ lời với người ngoài lò.
Ba ngày sau mở cửa.
Có sản phẩm đẹp.
Có sản phẩm bình thường.
Hai bình bị màu nhạt vì đoạn giảm nhiệt.
Chủ của một bình thở dài.
“Mẻ cuối mà thế.”
Mai nói:
“Nếu muốn em sẽ ghi đúng nhật ký: giảm lửa vì gió yếu.”
Ông nhìn cô.
Rồi gật.
“Ghi.”
Không ai dùng bí mật kỹ thuật để che điều đã xảy ra.
Chiếc bình đẹp nhất của mẻ thuộc về một học viên hai mươi ba tuổi.
Không phải tôi.
Không phải chú Năm.
Cô bé tên Hạnh, trước học thiết kế rồi về làng.
Bình có vệt tro chạy chéo như mây xám trên nền xanh.
Tôi hỏi:
“Định bán bao nhiêu?”
Hạnh nói:
“Chưa biết. Cháu muốn giữ một năm.”
“Sao?”
“Để xem năm sau còn thấy đẹp không.”
Chú Năm cười lớn.
“Con này được.”
Buổi tối, chúng tôi dọn lò.
Không treo biển “mẻ cuối lịch sử”.
Không khóa cửa.
Tôi tắt hệ thống điện phụ, đóng kho củi, ghi ngày mẻ vào sổ.
Rồi ngồi trước cửa lò.
Mai Lan tới muộn.
Cô vẫn làm môi trường, nhưng không còn phụ trách dự án của làng. Chúng tôi vẫn gặp nhau thỉnh thoảng.
Cô ngồi xuống cạnh.
“Cảm giác?”
“Như nghỉ một người thợ lâu năm.”
“Anh vừa nói lò không phải người.”
“Chú Năm nói.”
“Vậy anh chưa học.”
Tôi cười.
Phía xa, lò di sản cộng đồng không cháy hôm đó.
Cả Bát Tràng có một đêm gần như không có lửa củi.
Nhưng làng không tối.
Những xưởng dùng gas vẫn làm.
Lò điện chạy im.
Quán gốm sáng đèn.
Trẻ con đi qua đường.
Một nhóm thợ trẻ ngồi vẽ mẫu trên máy tính rồi tranh cãi ngoài hiên.
Chú Năm đã về ngủ.
Tôi chợt nhớ đêm đầu tiên, khi lò tắt mười lăm ngày, tôi từng sợ sự yên lặng.
Bây giờ nó chỉ là một âm thanh khác của làng nghề.
Năm sau, lò nhà tôi vẫn được châm hai mẻ đào tạo.
Năm kế tiếp một mẻ.
Có thể một ngày nào đó gạch lò hỏng đến mức không đáng sửa.
Khi đó chúng tôi sẽ phải quyết định tiếp.
Không có điều gì được bảo tồn vĩnh viễn chỉ bằng một quyết định hôm nay.
Ngay cả quy chế lò di sản cũng được xem lại mỗi ba năm.
Nếu công nghệ mới tạo được hiệu ứng tương đương với ít tác động hơn, chúng tôi phải thử.
Nếu dữ liệu cho thấy tác động vẫn quá cao, giới hạn phải đổi.
Nếu một kỹ thuật thật sự biến mất, chúng tôi phải ghi lại trung thực thay vì dựng sân khấu giả vờ nó còn sống.
Tôi từng nghĩ di sản là thứ cha trao cho con và con phải giữ nguyên.
Bây giờ tôi nghĩ khác.
Di sản là một cuộc đàm phán dài giữa người đã mất, người đang sống và người chưa ra đời.
Người đã mất cho chúng ta kỹ thuật.
Người đang sống phải quyết định cái giá có còn chấp nhận được.
Người chưa ra đời cần được nhận một nghề đủ khỏe để họ có quyền tiếp tục hoặc thay đổi.
Ngày Bát Tràng tắt lò củi không phải ngày nghề gốm chết.
Đó là ngày chúng tôi thôi dùng số lượng cột khói để đo xem mình còn truyền thống hay không.
Cha tôi từng bảo:
Gốm đi qua lửa mới thành.
Tôi vẫn tin.
Chỉ thêm một câu mà ông chưa từng phải nói:
Lửa cũng phải biết mình đang cháy giữa cuộc sống của những người khác.
— HẾT —