Chương 4: Mẻ củi đầu tiên có lịch gió
Mẻ thử đầu tiên được lên lịch vào một buổi sáng mà trước đây chẳng nghệ nhân nào coi là “đẹp ngày”.
Không xem lịch âm.
Không chờ khách quý.
Chúng tôi chọn vì ba lý do rất chán:
Gió tầng thấp đủ mạnh.
Hướng gió không thổi về phía trường học.
Và dự báo không có nghịch nhiệt kéo dài.
Chú Năm đứng trước bảng thời tiết, lẩm bẩm:
“Ông nội cậu mà sống lại chắc đập cái bảng.”
Tôi đáp:
“Ông nội cháu sống lại chắc hỏi cái cột màu xanh là gì trước.”
Ông không cười, nhưng khóe miệng động nhẹ.
Mẻ này chỉ có 126 sản phẩm.
Ít hơn một phần ba bình thường.
Không có cốc hàng ngày.
Không đĩa men trắng.
Chỉ những thứ chúng tôi đã thống nhất thực sự cần lửa củi.
Một loạt bình men tro.
Bộ tác phẩm thử hiệu ứng ngọn lửa.
Và mười tám sản phẩm của nghệ nhân khác trong làng đăng ký dùng chung lò.
Đó là thay đổi nữa.
Lò nhà tôi không còn được coi là tài sản riêng chỉ phục vụ thương hiệu Quang Minh.
Nếu làng muốn giữ số mẻ củi ít nhưng chất lượng cao, mỗi lò cổ không thể cháy riêng cho từng xưởng như trước.
Chúng tôi thử mô hình lò di sản dùng chung.
Mỗi nghệ nhân trả theo thể tích chiếm trong lò, không theo danh tiếng.
Người mới vẫn được đăng ký.
Một hội đồng kỹ thuật nhỏ chịu trách nhiệm xếp lịch, tránh việc vài nhà lớn chiếm hết.
Chú Năm phản đối nhất chuyện đó.
“Lò nhà mình, sao người khác vào xếp đồ?”
Tôi hỏi:
“Nếu muốn xã bảo vệ quyền đốt lò, mình có thể tiếp tục nói đây chỉ là chuyện riêng nhà mình không?”
Ông không thích.
Nhưng chấp nhận.
Bốn giờ sáng, chúng tôi châm lửa.
Mai Lan cùng hai cán bộ môi trường đứng ngoài ranh xưởng.
Ba máy đo đặt ở:
Cổng xưởng.
Gần trường học.
Và cuối hướng gió dự kiến.
Không ai đứng cạnh lò rồi dùng số đó để nói thay cho người ngoài hàng rào.
Đây là lần đầu tôi thấy mình bị quan sát khi nung.
Cảm giác rất khó chịu.
Mỗi lần thêm củi, tôi nghĩ có người đang nhìn một biểu đồ nào đó.
Chú Năm thì cố tình nói to:
“Lửa không biết sợ máy!”
Tôi đáp:
“Người biết là được.”
Khoảng chín giờ sáng, chỉ số bụi ở cổng xưởng tăng nhanh trong một giai đoạn nạp củi.
Không vượt mức dừng.
Nhưng cao hơn chúng tôi muốn.
Mai Lan gọi:
“Có gì thay đổi lúc 8:47 không?”
Tôi xem sổ.
“Nạp một bó củi lớn, cửa mở lâu.”
“Độ ẩm?”
“Mười chín phần trăm.”
“Bó trước?”
“Mười bốn.”
Chênh không nhiều.
Nhưng có thể đủ.
Chúng tôi đổi cách nạp.
Chia nhỏ bó.
Mở cửa ngắn hơn.
Tăng khoảng thời gian giữa hai lần.
Chú Năm cau có:
“Thế lửa tụt.”
“Tụt bao nhiêu?”
Ông nhìn màu.
Anh Toàn nhìn cảm biến.
“Ba độ.”
Chú Năm im.
Ba độ trong giai đoạn ấy không đáng kể.
Chúng tôi đã nạp kiểu cũ lâu đến mức nghĩ mọi thao tác cũ đều cần thiết.
Mẻ tiếp tục.
Đến chiều, một vấn đề khác xuất hiện.
Gió đổi sớm hơn dự báo.
Không thổi thẳng vào trường, nhưng bắt đầu dồn về một cụm nhà phía đông.
Máy đo ở vị trí dự kiến không còn nằm đúng cuối gió.
Mai Lan gọi:
“Chúng ta cần chuyển máy thứ ba.”
Chú Năm bật lên:
“Đang mẻ lò, cứ chạy theo gió cả ngày à?”
Cô nói:
“Nếu gió đổi thì người nhận khói đổi.”
Một câu rất đơn giản.
Tôi cho chuyển.
Chỉ số ở khu đông tăng nhưng vẫn trong phạm vi cho phép ngắn hạn.
Chúng tôi thông báo cho tổ dân phố qua nhóm chung, nói rõ dự kiến còn bao lâu tới giai đoạn ít khói hơn.
Một người nhắn:
Nhà tôi có bé hen. Nếu tăng nữa báo sớm.
Tôi trả lời:
Được.
Không biết người đó có tha thứ cho lò cổ vì tôi trả lời nhanh hay không.
Không cần.
Quyền được biết không phải cách mua thiện cảm.
Đến tám giờ tối, chúng tôi vào giai đoạn nhiệt cao.
Khói nhìn bằng mắt giảm rất nhiều so với đêm tai nạn.
Không phải biến mất.
Đừng ai nói lò củi “sạch”.
Nó chỉ ít bẩn hơn khi vận hành tốt.
Mai Lan nhắc tôi câu đó sau khi một trang du lịch đăng ảnh lò với dòng:
“Lò củi xanh đầu tiên Bát Tràng.”
Tôi yêu cầu họ sửa.
“Gọi lò củi được kiểm soát phát thải tốt hơn.”
Người viết bảo dài và xấu.
“Thì đừng viết.”
Tôi đã thấy quá nhiều vấn đề bắt đầu từ một từ đẹp hơn sự thật.
Hai giờ sáng, mẻ kết thúc.
Tổng lượng củi dùng thấp hơn gần một phần tư so với mẻ cùng quy mô cũ.
Không chỉ vì củi khô.
Vì lò không còn phải nung một đống hàng không cần ở đó.
Chỉ số ngoài xưởng có các đỉnh ngắn nhưng không xuất hiện giai đoạn tích tụ dài như đêm khói phủ trường.
Không phải chứng minh chúng tôi có thể đốt thoải mái.
Chỉ chứng minh một mẻ hạn chế, chọn điều kiện và vận hành tốt có thể khác rất nhiều một lịch nung vô điều kiện.
Ba ngày sau mở lò.
Tỷ lệ lỗi không thấp hơn đáng kể.
Cũng không cao hơn.
Một số bình có vệt tro đẹp.
Một số bình bình thường.
Không có tuyệt phẩm khiến cả thế giới cúi đầu.
Tôi thấy nhẹ.
Nếu mẻ đầu tiên tình cờ cho ra kiệt tác, chúng tôi rất dễ dùng cái đẹp ấy để biện minh cho mọi thứ.
Thực tế chỉ cho một kết quả đủ dùng:
Lò cổ vẫn tạo được thứ chúng tôi cần.
Và có thể cháy ít hơn.
Nhưng câu chuyện không kết thúc ở xưởng tôi.
Sau mẻ thử, mười bảy lò khác trong làng đồng loạt xin được giữ lịch nung củi riêng.
Mỗi nhà nói:
“Nếu Quang Minh được, chúng tôi cũng được.”
Mai Lan nhìn danh sách rồi hỏi:
“Nếu mười tám lò cùng viện lý do di sản, khói tổng sẽ ra sao?”
Tôi hiểu ngay.
Một ngoại lệ hợp lý ở từng xưởng có thể thành vấn đề lớn khi cộng lại.
Chúng tôi đã giải được câu hỏi “xưởng tôi có thể giữ lò không”.
Chưa giải câu hỏi khó hơn:
Một làng nghề đông dân được phép giữ bao nhiêu lửa củi cùng lúc?
Tối đó, chú Năm ngồi cạnh cửa lò đã nguội.
Ông nói:
“Hôm nay cậu giữ được lò.”
“Chưa.”
“Còn gì?”
Tôi nhìn những mái ngói quanh làng.
“Phải giữ cả làng thở được.”