Chương 7: Lò di sản không cần cháy mỗi đêm

Hai năm sau đêm khói bay vào trường học, trong làng chỉ còn sáu lò củi được đăng ký diện di sản.

Không ai phá mười hai lò còn lại.

Một số được giữ làm kiến trúc.

Một số chuyển thành không gian dạy nghề.

Một số chủ tự cải tạo sang nhiên liệu khác.

Vài lò nhỏ bị bỏ vì không còn kinh tế để sửa.

Con số sáu khiến báo chí viết hai kiểu tiêu đề.

Một bên:

“Bát Tràng mất dần lửa cổ.”

Bên kia:

“Làng nghề xanh hóa thành công.”

Tôi không thích cả hai.

Thực tế không đẹp gọn như vậy.

Một số thợ tăng thu nhập vì sản phẩm lò di sản hiếm hơn và được định giá đúng hơn.

Một số xưởng tốn nhiều năm trả tiền thiết bị mới.

Một số người trẻ bỏ nghề dù đã có chương trình hỗ trợ.

Một số hàng dân dụng chất lượng ổn định hơn khi chuyển lò gas.

Một số nghệ nhân vẫn nói men “mất thần”.

Và thỉnh thoảng, vào ngày gió xấu, lịch nung bị hủy khiến người có đơn hàng nổi giận.

Không có giải pháp nào xóa hết cái giá của chuyển đổi.

Nhưng khói tích tụ ở khu dân cư giảm rõ.

Trường học không còn gọi xưởng nhà tôi vào ban đêm.

Đó là một chỉ dấu tôi tin hơn tiêu đề.

Vấn đề mới là sáu lò di sản vẫn phân tán.

Mỗi lò cần bảo dưỡng riêng.

Mỗi lò cần lịch riêng.

Mỗi xưởng nhỏ khó đủ người học kỹ thuật lò củi nếu chỉ nung vài mẻ một năm.

Hội nghệ nhân đề nghị xây một lò di sản dùng chung mới ở rìa khu dân cư.

Cả làng lại cãi.

Người bảo:

“Di sản mà xây mới thì còn di sản gì?”

Người khác nói:

“Mang lò ra ngoài làng khác gì đưa nghề vào bảo tàng?”

Chú Năm, người tôi tưởng sẽ phản đối mạnh nhất, lại hỏi:

“Xây kiểu nào?”

Tôi nhìn ông.

“Chú đồng ý?”

“Tôi hỏi trước.”

Chúng tôi không sao chép lò cổ như một mô hình trang trí.

Nhóm thiết kế gồm:

Ba nghệ nhân lò lâu năm.

Bốn thợ trẻ.

Kỹ sư nhiệt.

Mai Lan.

Và hai người dân sống gần vị trí dự kiến.

Lò mới vẫn dùng nguyên lý bầu nhiều buồng, dòng lửa nối tiếp và vùng tro bay.

Nhưng có những thứ tổ tiên tôi không có điều kiện làm:

Cửa nạp kín hơn.

Đường khí được tính để giảm cháy không hoàn toàn.

Kho củi có mái và thông gió đo ẩm.

Khu thao tác tách khỏi luồng khói.

Ống khói đặt theo mô hình phân tán và cách xa khu nhạy cảm hơn.

Các điểm lấy số liệu tích hợp từ đầu.

Chú Năm phản đối việc “tính” dòng lửa bằng mô phỏng.

Kỹ sư nhiệt đưa cho ông bản vẽ.

“Chú xem chỗ nào sai.”

Ông cầm bút đỏ, sửa sáu chỗ.

Hai chỗ sau khi mô phỏng lại đúng là tốt hơn.

Bốn chỗ kỹ sư giữ nguyên và giải thích.

Họ cãi ba tuần.

Tôi chưa từng thấy chú Năm vui như vậy.

Ông được đối xử không phải như “người già cần được tôn trọng”, mà như một người có kiến thức phải đem ra tranh luận.

Khác biệt rất lớn.

Khi lò xây xong, câu hỏi lớn nhất là:

Ai sở hữu?

Nếu giao cho hội nghệ nhân, các xưởng trẻ sợ bị ưu tiên người quen.

Nếu giao chính quyền, nghệ nhân sợ quy trình hành chính giết tính linh hoạt.

Nếu giao một doanh nghiệp vận hành, lò di sản có thể biến thành dịch vụ thương mại độc quyền.

Cuối cùng chúng tôi lập một đơn vị cộng đồng riêng.

Hội đồng có:

Nghệ nhân.

Đại diện thợ.

Đại diện cư dân.

Một người kỹ thuật môi trường.

Và một thành viên độc lập phụ trách tài chính.

Không ai có đa số một mình.

Phí sử dụng công khai.

Lịch công khai.

Dữ liệu mẻ công khai phần môi trường, còn bí quyết men của nghệ nhân không bị buộc phải công bố.

Đó là một ranh giới chúng tôi tranh rất lâu.

Minh bạch không có nghĩa cộng đồng được quyền lấy mọi bí quyết nghề của từng nhà.

Người dân cần biết lò cháy khi nào, khói ra sao.

Không cần biết tôi phối men tro tỷ lệ bao nhiêu.

Mẻ đầu của lò mới là một thảm họa nhỏ.

Không khói bất thường.

Không sự cố an toàn.

Nhưng gần nửa sản phẩm có hiệu ứng quá sạch.

Tro bám ít.

Lửa đi đều hơn dự tính.

Những cải tiến khiến lò hiệu quả hơn cũng làm một phần ngẫu nhiên mà nghệ nhân yêu thích biến mất.

Chú Năm nhìn bình rồi nói:

“Tôi đã bảo.”

Kỹ sư nhiệt không cãi.

“Vậy sửa.”

Chúng tôi thử thêm các cửa tro có kiểm soát.

Thay cách xếp sản phẩm.

Tạo một số vùng dòng lửa chủ động không đồng đều mà không cần đốt bẩn hơn.

Mẻ hai khá hơn.

Mẻ ba xuất hiện những vệt lửa mà chú Năm gật đầu.

Không giống lò cũ hoàn toàn.

Không thể.

Đó là một lò khác.

Tôi từng nghĩ mục tiêu phục dựng là tái tạo giống hệt.

Sau này hiểu di sản sống không giống phục chế một chiếc bình vỡ.

Nó phải tiếp tục hoạt động trong điều kiện mới.

Chúng tôi giữ lò cũ nhà tôi.

Mỗi năm chỉ nung vài mẻ đặc biệt, chủ yếu để đào tạo và so sánh.

Lò mới gánh phần lớn mẻ di sản cộng đồng.

Chú Năm chuyển sang dạy nhiều hơn đứng lửa.

Mai trở thành một trong ba trưởng mẻ.

Anh Toàn phụ trách cả lò gas và lò củi.

Tôi thì bớt đứng cửa lò hơn trước.

Điều đó ban đầu làm tôi hụt.

Tôi là nghệ nhân.

Nghệ nhân nào lại không đứng lò?

Rồi một lần, tôi đi công tác ba ngày đúng lúc mẻ di sản diễn ra.

Tôi định hủy chuyến.

Mai nói:

“Anh không cần ở đây.”

Tôi hơi bị xúc phạm.

“Cô tự tin quá.”

“Không.”

Cô đáp.

“Em tin quy trình và cả đội.”

Tôi đi.

Mẻ ra tốt.

Không tuyệt tác.

Không thất bại.

Tốt.

Tôi nhìn ảnh từ xa, nhận ra cảm giác vừa buồn vừa nhẹ.

Một nghề sống được qua thế hệ không thể cần một người luôn có mặt.

Ngày về, chú Năm đưa tôi một chén từ mẻ đó.

“Không có cậu vẫn cháy.”

“Chú vui lắm à?”

“Rất.”

Ông cười.

“Đến lượt cậu học cảm giác bị thay.”

Tôi uống trà.

Chén men tro của Mai có một vệt xám chạy lệch ở đáy.

Không giống tay tôi.

Rất đẹp.

Tôi nghĩ tới câu cha từng nói:

Lửa không thuộc về người nhóm nó.

Ngày nhỏ tôi tưởng ông đang nói chuyện triết lý.

Bây giờ mới hiểu.

Nếu muốn lửa còn cháy lâu, phải có lúc mình rời tay khỏi nó.

Home Trước Sau
Cài đặt Đọc truyện
Cỡ chữ
Kiểu Chữ
Phông Nền
💬 Bình luận đoạn
Đang tải bình luận...