Chương 2 / 8 ◆ ~8 phút đọc

Chương 2: Làng phải ngập để thành phố không ngập

Ở Nam Mộc, người ta không hỏi tôi từng là vương phi.

Họ hỏi:

“Nhà tôi có phải chạy không?”

Đó là câu hỏi khó hơn mọi lời chế giễu ở kinh thành.

Trạm thủy văn đặt trong một miếu cũ sát bờ sông. Ba ngày liên tiếp, chúng tôi đo mực nước mỗi nửa canh giờ.

Đường biểu diễn không xuống.

Mưa thượng nguồn vẫn dồn.

Trong khi đó, đê bờ bắc mới xây rất cao và kín. Nó bảo vệ thương cảng Vĩnh Khê, kho thuế và khu dân cư giàu nhất vùng.

Bờ nam thấp hơn.

Ở đó có mười bảy làng.

Bốn mươi ba nghìn dân.

Ruộng lúa.

Hai chợ nhỏ.

Không dinh quan.

Không kho thuế.

Không có lý do nào trên giấy khiến một quan chức ở kinh thành gọi nơi ấy là “trọng yếu”.

Nhưng có người sống ở đó.

Đó đáng lẽ phải đủ.

Tôi yêu cầu mở toàn bộ hồ sơ thiết kế.

Quan chủ trì Nam Mộc, Trịnh Phác, không vui.

“Hạ cô nương chỉ được cử hỗ trợ đo đạc và dân sinh.”

“Vậy tôi đang hỗ trợ.”

“Hồ sơ kỹ thuật do Công bộ quản.”

“Đê đang rò dưới chân. Nếu hồ sơ không cho người đứng trên đê xem thì để làm gì?”

Ông nhìn tôi.

“Cô từng là vương phi, không có nghĩa…”

“Tôi đã bị hưu.”

Tôi nói rất bình thản.

“Nếu ngài định dùng thân phận cũ để từ chối tôi thì ít nhất cập nhật tin.”

Mấy viên thư lại cúi đầu giấu cười.

Trịnh Phác cuối cùng đưa hồ sơ.

Tôi đọc suốt đêm.

Và tìm thấy điều mình sợ.

Bản thiết kế đầu tiên có ba khu tràn lũ tự nhiên ở nam ngạn.

Không phải những con đê bị lỗi.

Mà là vùng đất được quy hoạch để khi nước vượt ngưỡng, dòng sông có chỗ tản.

Hai khu là đồng hoang theo mùa.

Khu thứ ba gồm bốn làng và ruộng thấp.

Trong phương án gốc, dân ở khu ba phải được di dời từng bước trong năm năm, đổi đất mới ở cao hơn, rồi vùng cũ trở thành bãi phân lũ.

Nhưng hai năm sau, phương án bị sửa.

Ba khu tràn bị thu hẹp còn một.

Hai vùng còn lại được phép khai khẩn để tăng diện tích chịu thuế.

Tôi chỉ vào dấu phê chuẩn.

“Ai duyệt sửa?”

Trịnh Phác đáp:

“Công bộ, Hộ bộ và Nhiếp chính phủ cùng đồng ý.”

Tên Lục Trường Uyên nằm trên văn bản.

Không phải chữ ký trực tiếp.

Là ấn phê của phủ.

Tôi nhìn rất lâu.

Vậy là đây không còn là một lỗi kỹ thuật.

Nó là một quyết định chính sách.

Người ta muốn vừa có đê, vừa có thêm đất thu thuế, vừa không phải bồi thường dân bị di dời.

Trong những năm nước vừa, hệ thống hoạt động.

Không ai thấy cái giá.

Năm nay nước lớn.

Dòng sông tới đòi lại phần không gian từng thuộc về nó.

Sáng hôm sau, tôi đi bốn làng nằm trong khu tràn cũ.

Làng đầu tên Hạ Tân.

Người dân biết tin đồn.

Họ tụ tập trước đình.

Một người đàn ông hỏi thẳng:

“Có phải triều đình định phá đê cho nước vào đây cứu Vĩnh Khê không?”

Không ai trong đoàn muốn trả lời.

Tôi đáp:

“Chưa có lệnh phá.”

“Nhưng có thể?”

“Có.”

Tiếng chửi nổi lên.

Một bà già ném nắm bùn vào chân tôi.

“Nhà quan ở bờ kia, nên làng tôi chết?”

Tôi không tránh.

“Không.”

“Vậy cô hứa không phá?”

Tôi không hứa.

Nếu tôi nói không phá để được yêu quý, vài ngày sau khi nước buộc phải tràn, lời hứa ấy sẽ giết người.

“Tôi hứa một việc khác.”

“Việc gì?”

“Nếu có khả năng phải cho nước vào, mọi người sẽ được biết trước ngưỡng nào, giờ nào, đường chạy nào và được đưa đi trước khi lệnh được thực hiện.”

Một người cười lạnh.

“Nhà thì sao?”

“Không hứa giữ được.”

“Ruộng?”

“Không.”

“Vậy hứa gì?”

Tôi nhìn họ.

“Hứa mạng người không bị giấu sau chữ ‘khẩn cấp’.”

Không ai vỗ tay.

Họ có quyền không cảm động.

Tôi yêu cầu lập danh sách từng hộ.

Người già.

Trẻ nhỏ.

Người bệnh.

Trâu bò.

Thóc giống.

Giấy tờ đất.

Đồ thờ.

Những thứ người ở kinh thành gọi chung là “tài sản” nhưng với người trong làng là từng phần đời sống.

Chúng tôi khảo sát ba tuyến chạy lên gò cao.

Tuyến một nhanh nhất nhưng qua cầu gỗ yếu.

Tuyến hai dài hơn, đủ cho xe bò.

Tuyến ba là đường núi chỉ dùng khi hai đường kia bị cắt.

Tôi yêu cầu đánh dấu bằng cọc vôi và đèn dầu.

Trịnh Phác nói:

“Làm vậy dân sẽ hoảng.”

“Họ đã hoảng.”

“Cô càng chuẩn bị họ càng tin triều đình chắc chắn bỏ làng.”

“Không chuẩn bị không làm nguy cơ biến mất.”

Ngày thứ hai, chúng tôi tổ chức thử di chuyển.

Không gọi là diễn tập.

Chỉ nói:

“Nếu nghe ba hồi chiêng dài, mỗi nhà mang đúng túi đã chuẩn bị, đi theo màu cọc của khu mình.”

Lần đầu mất gần hai canh giờ.

Quá lâu.

Một gia đình quay lại lấy lợn.

Một bà cụ không chịu rời bàn thờ.

Hai xe bò kẹt ở cầu.

Trẻ con tách mẹ.

Không ai chết vì đây chỉ là thử.

Chúng tôi sửa.

Chia đàn vật nuôi đi sớm.

Đặt người dẫn ở mỗi ngã.

Lập điểm tập trung trẻ em.

Cho mỗi nhà một tấm gỗ ghi số thành viên để kiểm đếm.

Lần hai còn một canh giờ.

Vẫn dài.

Nhưng thật hơn mọi bản báo cáo “có phương án di dân” tôi từng đọc.

Tối đó, tin từ kinh thành tới.

Nội các hỏi:

Nếu phải phân lũ, vùng nào ít thiệt hại nhất?

Tôi ghét câu hỏi.

Nhưng phải trả lời.

Tôi tính ba kịch bản.

Kịch bản A: giữ toàn bộ đê.

Nếu đê tự vỡ ở điểm yếu hiện tại, nước có thể đổ bất ngờ vào sáu làng trong đêm, không kiểm soát được lưu lượng.

Kịch bản B: phá chủ động ở Hạ Tân.

Bốn làng ngập có kiểm soát, đổi lại giảm đỉnh nước cho Vĩnh Khê và hai huyện phía dưới.

Kịch bản C: mở hai đoạn cùng lúc, một bờ nam, một vùng đồng trũng bắc ngạn.

Thiệt hại phân tán hơn, nhưng bắc ngạn có kho thuế và tài sản lớn.

Tôi gửi kịch bản C.

Trịnh Phác nhìn tôi.

“Triều đình sẽ không chọn.”

“Vì sao?”

“Kho thuế.”

“Kho di chuyển được.”

“Thương nhân sẽ phản đối.”

“Dân nam ngạn cũng đang phản đối.”

“Họ không có người trong triều.”

Đó là câu thật nhất ông nói.

Tôi gửi thêm một dòng:

Không nên chọn vùng hy sinh dựa trên giá trị thuế của đất. Nếu buộc phân lũ, tiêu chí phải gồm thời gian di dời, số người, độ sâu dự kiến, khả năng phục hồi và tổng rủi ro hệ thống.

Hai ngày sau, Lục Trường Uyên tới Nam Mộc.

Không cờ lớn.

Không nghi trượng.

Hắn làm đúng điều tôi từng nói.

Chúng tôi gặp trên đê lúc trời gần tối.

Hắn đưa bản phê chuẩn sửa quy hoạch năm xưa.

“Ấn phủ là của ta.”

“Tôi biết.”

“Ta đã đồng ý thu hẹp vùng phân lũ.”

“Tôi biết.”

“Nàng không hỏi vì sao?”

“Giờ ngài có thể tự nói.”

Hắn nhìn nước.

“Ba năm trước, Hộ bộ báo không đủ ngân sách bồi thường bốn làng. Vĩnh Khê lại cần mở rộng thương cảng. Công bộ nói xác suất gặp trận lũ vượt thiết kế trong hai mươi năm là thấp.”

“Ngài tin.”

“Ta chọn.”

Hắn sửa.

“Không đổ cho họ. Ta chọn.”

Tôi gật.

“Tốt.”

“Tốt?”

“Ít nhất nếu quyết định sai, chúng ta biết ai phải chịu trách nhiệm.”

Hắn cười không vui.

“Nàng thật sự không biết an ủi.”

“Ngài không xuống đây để được an ủi.”

Tôi đưa ba kịch bản.

Lục Trường Uyên đọc rất lâu.

Đến phương án C, hắn hỏi:

“Nàng muốn cho nước vào cả bắc ngạn?”

“Muốn chia rủi ro.”

“Kho thuế sẽ mất.”

“Dời ngay từ bây giờ.”

“Thương cảng có hàng nghìn người.”

“Vì vậy nếu phải mở bắc ngạn, mở vùng đồng trũng phía tây cảng, không phải khu dân cư.”

“Chi phí?”

“Cao.”

“So với phá Hạ Tân?”

“Cao hơn.”

“Vậy triều đình sẽ hỏi vì sao phải trả nhiều hơn.”

Tôi nhìn hắn.

“Vì dân nghèo không phải phần rẻ của phương trình.”

Đêm đó, mực nước tăng thêm ba tấc.

Đất dưới đê Nam Mộc bắt đầu rỉ thành những dòng nhỏ.

Chúng tôi chỉ còn rất ít thời gian để biến một quyết định về đất thành một quyết định có người sống sót.

Đã đọc xong

Chương 2 / 8

Câu chuyện vẫn còn phía trước.

Đọc chương tiếp
Home Trước Sau
Đọc tiếp chỗ đang dở? Bạn đã đọc một phần chương này.
Cài đặt Đọc truyện
Cỡ chữ
Giãn dòng
Độ rộng trang đọc
Kiểu Chữ
Phông Nền
💬 Bình luận đoạn
Đang tải bình luận...