Chương 3: Ba hồi chiêng trước khi mở đê
Quyết định phân lũ được đưa ra lúc canh tư.
Không ai dùng chữ “hy sinh”.
Trong công văn, họ viết:
Thực hiện xả khẩn cấp có kiểm soát tại hai vùng trũng nhằm hạ đỉnh lũ hệ thống.
Ngôn ngữ rất sạch.
Nước thì không.
Phương án được phê chuẩn gần với kịch bản C của tôi: mở một đoạn nam ngạn ở Hạ Tân và một bãi kho phía tây Vĩnh Khê. Kho thuế phải di chuyển. Thương nhân phản đối. Hộ bộ nổi giận. Nhưng Lục Trường Uyên ký.
Hắn ghi thêm bên dưới:
Mọi dân cư vùng Hạ Tân phải hoàn tất di dời trước khi mở cửa xả. Nếu chưa xác nhận đủ người, không được phá đê.
Tôi đọc rồi nói:
“Câu này có thể khiến chúng ta chậm.”
“Biết.”
“Nếu mực nước vượt ngưỡng trước khi đủ người?”
“Nàng quyết.”
“Không.”
Hắn nhìn tôi.
“Ngài không được đẩy một quyết định chính trị thành gánh của một người đo đạc.”
“Vậy ai?”
“Lập ba người.”
Tôi chỉ Trịnh Phác, quan Công bộ tại hiện trường; Triệu Nham, huyện lệnh Hạ Tân; và chính tôi.
“Nếu buộc phải mở trước khi kiểm đủ, ít nhất hai trong ba người cùng ký, ghi số liệu tại thời điểm đó và lý do.”
Lục Trường Uyên gật.
“Được.”
Đó là cách chúng tôi bước vào một ngày mà mỗi nửa canh giờ đều có thể làm thay đổi đời của hàng nghìn người.
Canh năm, ba hồi chiêng vang khắp Hạ Tân.
Không phải lần thử.
Lần này người dân biết nước thật sự sẽ tới.
Những gì diễn tập được phát huy.
Và những gì diễn tập không thể mô phỏng lập tức xuất hiện.
Một gia đình mất dấu con trai mười ba tuổi vì thằng bé chạy đi tìm con chó.
Một ông cụ giấu chìa khóa kho thóc, nhất quyết không cho con cháu bỏ đi.
Hai sản phụ không thể ngồi xe bò trên đường xóc.
Một đàn trâu hoảng khi nghe chiêng, phá hàng rào chạy ngược về bãi.
Không có kế hoạch nào biến con người thành những dấu chấm ngoan ngoãn.
Tôi chia đội.
Trẻ em được gom theo nhóm, đeo thẻ gỗ ghi tên cha mẹ.
Người già đi tuyến ngắn nhất.
Gia súc không còn được ưu tiên hơn người; đàn nào không dẫn được phải mở chuồng để chúng tự tìm đất cao.
“Mất trâu thì ai đền?” một người hét.
Tôi đáp:
“Sẽ lập sổ thiệt hại.”
“Sổ nuôi được nhà tôi à?”
“Không.”
Tôi nói thật.
“Nhưng nếu ông quay lại bây giờ, nhà ông có thể mất cả người lẫn trâu.”
Ông chửi tôi.
Rồi đi.
Đến giữa buổi sáng, mực nước chạm ngưỡng cảnh báo đỏ.
Đê phía nam xuất hiện ba điểm thấm mới.
Trịnh Phác quỳ bên hố thấm, bốc bùn lên ngửi như thể có thể đọc được ý dòng sông.
“Không giữ đến trưa.”
“Bao lâu?”
“Một canh giờ nếu may.”
Danh sách di dân còn thiếu 126 người.
Không có nghĩa 126 người đang ở vùng nguy hiểm.
Có người đã đi nhưng chưa check-in.
Có nhà ghi bảy nhưng chỉ còn sáu vì con gái lấy chồng huyện khác.
Có người làm đồng từ hôm trước không về.
Đây là lúc một danh sách xấu trở thành rủi ro.
Tôi nhớ những bản kê hộ tịch được làm để thu thuế, không phải để cứu người.
Chúng tôi phải sửa ngay trong lúc nước lên.
Triệu Nham cho người chia danh sách theo xóm.
Không hỏi “126 người đâu?”.
Hỏi từng trưởng xóm:
“Tên này hiện sống ở đâu?”
“Tên này có đang trong huyện?”
“Nhà này đã qua điểm tập trung chưa?”
Con số giảm.
126.
83.
41.
19.
Còn bảy.
Trong bảy có thằng bé đi tìm chó.
Hai anh em chèo thuyền đi kiểm lưới từ sáng sớm.
Một bà góa sống một mình ở cuối xóm.
Ba người còn lại được xác nhận đã đi sang huyện khác nhưng hộ tịch chưa chuyển.
Thực tế còn bốn.
Mực nước lên thêm một tấc.
Trịnh Phác nói:
“Không thể chờ.”
Triệu Nham tái mặt.
“Bốn người.”
“Nếu đê tự vỡ, không chỉ bốn.”
Tôi nhìn bảng mực nước.
Đây là khoảnh khắc mọi nguyên tắc đẹp đều phải đối diện một con số không sạch.
Chúng tôi đã hứa không mở trước khi đủ người.
Nhưng lời hứa ấy được viết khi đê còn cho phép chờ.
Tôi hỏi:
“Đội tìm bốn người ở đâu?”
“Bà góa đã thấy, đang đưa ra.”
“Hai anh em thuyền?”
“Có người nhìn thấy xuồng ở bãi lau phía hạ lưu.”
“Thằng bé?”
“Chưa.”
Trịnh Phác nói:
“Nếu chúng ta đợi thêm nửa canh, điểm vỡ có thể chuyển lên phía đông. Khi đó nước đổ thẳng vào xóm đông nhất.”
Triệu Nham nhìn tôi.
“Ký không?”
Tôi không trả lời ngay.
Lục Trường Uyên đứng cách đó vài bước.
Hắn không chen.
Đây là điều tôi đã yêu cầu.
Người ở kinh thành không được lấy quyền lực thay cho dữ liệu hiện trường.
Tôi hỏi Trịnh Phác:
“Nếu mở bây giờ, mất bao lâu nước tới xóm?”
“Khoảng nửa canh.”
“Nếu thằng bé còn trong xóm?”
“Có thể chạy lên gò nếu nghe pháo hiệu.”
“Nếu ở bãi thấp?”
Ông không nói.
Tôi nhìn Triệu Nham.
“Phát pháo ba lần. Đội tìm kiếm không đi sâu thêm. Gọi họ rút về các gò trung gian, vừa tìm vừa rút.”
“Còn mở?”
“Mở.”
Tay tôi lạnh khi ký.
Trịnh Phác ký thứ hai.
Triệu Nham nhìn hai chữ ký rồi ký thứ ba.
Không ai sau này có thể nói một mình người khác ra lệnh.
Giờ Thìn ba khắc, pháo hiệu vang.
Đội dân phu đào rãnh dẫn đầu tiên.
Không dùng thuốc nổ ngay.
Chúng tôi đã chuẩn bị một đoạn đê mỏng hơn từ tối trước để nước có thể phá dần theo hướng kiểm soát.
Khi nhát cuốc cuối cùng mở đường, nước chỉ chảy thành một dòng nhỏ.
Rồi dòng nhỏ ăn đất.
Rộng một thước.
Ba thước.
Một trượng.
Tiếng nước đổi từ róc rách thành gầm.
Người đứng trên đê lùi.
Cả một phần dòng sông bắt đầu tràn vào cánh đồng mà sáng nay còn có lúa.
Tôi đã tính cảnh này trên giấy.
Không phép tính nào diễn tả được việc nhìn một ngôi nhà đầu tiên bị nước chạm tới chân tường.
Một phụ nữ bên cạnh khóc.
“Nhà tôi.”
Tôi không nói “sẽ xây lại”.
Chưa biết.
Không nói “ít nhất người còn”.
Câu đó đúng nhưng tàn nhẫn nếu dùng quá sớm.
Tôi chỉ đứng cùng bà.
Mười lăm phút sau, bãi phân lũ bắc ngạn cũng được mở.
Kho thuế đã dời được khoảng bảy phần mười.
Phần còn lại ngập.
Hộ bộ về sau sẽ tính số bạc mất.
Hôm đó chúng tôi chỉ nhìn mực nước chính.
Nó chậm lại.
Không xuống ngay.
Nhưng tốc độ tăng giảm một nửa.
Đê đông không vỡ.
Vĩnh Khê không bị tràn.
Hai huyện hạ lưu có thêm thời gian đóng cống.
Phương án hoạt động.
Nhưng bốn người vẫn chưa đủ.
Bà góa tới điểm tập trung.
Hai anh em chèo thuyền được tìm thấy trên gò lau, ướt nhưng sống.
Còn thằng bé.
Đến gần trưa, một đội tìm kiếm quay về.
Người dẫn ôm một con chó ướt sũng.
Không có thằng bé.
Mẹ nó ngã khuỵu.
Tôi thấy mình không thở được.
Rồi từ phía đường núi, có tiếng trẻ con:
“Mẹ!”
Thằng bé xuất hiện cùng một người đánh cá già.
Nó đã chạy theo chó ra bờ, bị nước cắt đường, được ông lão kéo lên thuyền rồi vòng qua gò sau.
Con chó trong tay đội tìm kiếm không phải chó của nó.
Một nhầm lẫn rất nhỏ suýt biến thành tin chết người.
Mẹ thằng bé chạy tới tát nó một cái.
Rồi ôm.
Tôi ngồi xuống bậc đá.
Lục Trường Uyên tới bên.
“Đủ?”
“Đủ.”
“Có ai chết?”
“Chưa ghi nhận.”
Hắn nhìn vùng nước mới trải rộng trên ruộng.
“Nhà thì nhiều.”
“Ừ.”
“Nàng hối hận đã đề nghị phương án này?”
“Có.”
Hắn quay sang.
“Nhưng nếu làm lại?”
“Vẫn làm.”
Hai điều có thể cùng đúng.
Một quyết định có thể cần thiết và vẫn khiến người ra quyết định đau.
Tôi không muốn trở thành kiểu người phải tự thuyết phục mình mọi thứ đã làm đều đúng thì mới chịu nổi trách nhiệm.
Chiều đó, tôi yêu cầu dựng bảng công khai ở đình tạm cư.
Trên đó ghi:
Giờ mở đê.
Mực nước lúc ký.
Ba người ký.
Số hộ di dời.
Những người từng chưa xác minh.
Diện tích dự kiến ngập.
Và một dòng:
Mọi thiệt hại sẽ được kiểm kê theo từng hộ. Việc phân lũ không xóa nghĩa vụ bồi thường và tái định cư.
Trịnh Phác hỏi:
“Cần ghi cả tên người ký sao?”
“Cần.”
“Dân sẽ trách.”
“Họ có quyền biết trách ai.”
Lục Trường Uyên nói:
“Ghi thêm tên ta ở phần phê chuẩn phương án.”
Tôi nhìn hắn.
“Ngài không trực tiếp ký mở.”
“Nhưng ta phê phương án và từng phê quy hoạch làm rủi ro lớn hơn.”
Tôi đưa bút cho thư lại.
“Ghi.”
Đêm ấy nước bắt đầu rút rất chậm.
Chúng tôi đã tránh một vụ vỡ đê lớn.
Nhưng phần khó nhất mới bắt đầu.
Cứu người trong một ngày khiến người ta gọi anh hùng.
Ở lại nhiều năm để trả lại đất, nhà và sinh kế mới cho thấy chính quyền có thật sự coi những người bị ngập là người hay chỉ là con số đã được “sơ tán thành công”.