Chương 13: Mẫu Mắm Nhĩ Cuối Cùng Và Phiên Họp Lại
Số điện thoại Bùi Khánh Toàn khoanh tròn không dẫn đến một “ông trùm” mới nào. Nó dẫn đến một nhân viên hợp đồng tên Tùng, người được thuê riêng để phụ trách tiếp nhận mẫu kiểm nghiệm cho buổi thẩm định, dùng số điện thoại cá nhân thay vì số nội bộ của hiệp hội. Một cái tên nhỏ, một vị trí nhỏ, đúng kiểu mắt xích mà Trịnh Quang Vinh vẫn thích dùng.
Toàn muốn gọi ngay. Phạm An Khuê giữ tay anh lại. “Anh gọi, cậu ta sẽ sợ và xóa hết,” cô nói. “Để luật sư làm.” Cô chuyển số điện thoại cho luật sư, yêu cầu lập biên bản xác minh trước, gửi kèm bản sao ba biên bản tiếp nhận mẫu có số máy ấy. Rồi cô bắt anh về ngủ, lần đầu tiên sau bốn đêm.
Hai ngày sau, Tùng tự đến văn phòng luật sư. Cậu ta chừng hai mươi lăm tuổi, áo sơ mi nhàu, mắt thâm quầng, mang theo một chiếc điện thoại cũ và lịch sử tin nhắn còn nguyên trong bộ nhớ. Trong đó có một chỉ đạo rõ ràng: đổi mã hai chén mẫu, chén của chai tem số mười một và chén của chai nhãn vàng, trước giờ nếm mù và trước ngày công bố kết quả kiểm nghiệm chính thức. Người gửi dùng một tài khoản trung gian, nhưng số điện thoại đăng ký tài khoản ấy thuộc về trợ lý mới của Trịnh Quang Vinh.
“Tôi không biết họ muốn phá ai,” Tùng nói, hai tay đan chặt vào nhau. “Họ chỉ bảo đổi cái nhãn dán trên phiếu, trả tôi năm triệu, bảo đằng nào thì mẫu nào cũng là nước mắm cả.”
Khánh Toàn nhìn sang An Khuê. Cô không phản ứng cảm tính, không trách, không an ủi. “Anh ký xác nhận đúng những gì anh trực tiếp biết,” cô nói với Tùng. “Phần nào anh không biết thì để trống. Đừng thêm gì cho câu chuyện nghe hay hơn.” Đó là nguyên tắc xuyên suốt vụ việc: không biến một nhân chứng sợ hãi thành công cụ kể một câu chuyện đẹp hơn sự thật.
Mẫu mắm nhĩ gốc được lấy lại từ lô niêm phong độc lập vẫn nằm trong kho đơn vị kiểm định từ hôm ở Phú Quốc. Kết quả kiểm nghiệm mới xác nhận độ đạm tự nhiên bốn mươi độ, không có dấu hiệu pha chất như cáo buộc trước đó. Biên bản sổ muối của chú Hòa, nhật ký ủ chượp ba đời và nguồn cá cơm từ các ghe Hàm Ninh khớp với từng mẻ sản xuất, không lệch một dòng.
Cơ quan điều tra cũng làm rõ chai mắm trong vụ siêu thị gỡ kệ. Số lô bị tẩy trên phiếu tiếp nhận của phòng thí nghiệm tư nhân, như tấm ảnh Lâm Phương chụp, vốn là mã của một lô mắm chượp sáu tháng từ xưởng Long An. Chai bị kiểm nghiệm chưa bao giờ đi ra từ nhà thùng Bùi Gia.
Hiệp hội tổ chức phiên họp lại vào một sáng thứ hai. Lần này, Trịnh Quang Vinh không còn ngồi ở bàn chủ tọa. Ghế phó chủ tịch phụ trách chuyên môn để trống, trên bàn chỉ có tấm biển tên đã úp xuống. Hồ sơ thao túng mẫu, chèn phụ lục, làm giả sổ ủ chượp và các giao dịch liên quan được chuyển nguyên bộ cho cơ quan có thẩm quyền. Những đơn vị từng gỡ sản phẩm khỏi kệ nhận báo cáo chính thức để đánh giá lại.
Đại diện hệ thống siêu thị gọi cho Khánh Toàn, giọng ngập ngừng, hỏi phía nhà thùng có yêu cầu họ đăng lời xin lỗi công khai không, có muốn một chiến dịch truyền thông đi kèm không. Khánh Toàn không cần thứ đó. Anh yêu cầu một việc cụ thể hơn. “Nếu sản phẩm được đưa lại lên kệ, hãy ghi đúng nguồn gốc và tiêu chuẩn,” anh nói. “Không cần ghi chúng tôi từng bị oan.”
Ba tuần sau, lô nước mắm Bùi Gia đầu tiên trở lại hệ thống phân phối. Không có băng rôn “chiến thắng”, không có quầy khuyến mãi. Chỉ có tem truy xuất, tên nhà thùng và ngày bắt đầu ủ in rõ trên nhãn. Ngân đi một vòng ba siêu thị lớn chụp ảnh gửi về, kèm một dòng: “Kệ thứ hai từ trên xuống, ngang tầm mắt anh ạ.”
Chuỗi đặc sản Việt trị giá một trăm năm mươi tỷ trong thương vụ trước đó được tái cấu trúc theo thỏa thuận mới, sau khi phụ lục ba bị tuyên vô hiệu. Khánh Toàn giữ quyền kiểm soát công thức và tiêu chuẩn nhà thùng. An Khuê giữ quyền phủ quyết mọi thay đổi có thể làm sai nguồn gốc sản phẩm. Ông Lộc giữ quyền nếm cuối cùng, ghi thành một điều khoản riêng mà luật sư của quỹ đến giờ vẫn chưa biết đặt tên là gì.
“Hai người khó tính thế này thì làm ăn sao nổi?” một đối tác đùa trong bữa cơm sau buổi ký. An Khuê đặt đũa xuống, đáp rất nghiêm túc: “Vì khó tính nên mới còn hàng thật để bán.”
Trịnh Quang Vinh mất toàn bộ vị trí ảnh hưởng trong hiệp hội khi cuộc xác minh nội bộ kết luận hắn đã can thiệp sai quy trình thẩm định. Phần trách nhiệm pháp lý còn lại được xử lý theo hồ sơ, theo đúng trình tự, không cần Khánh Toàn đứng trước camera nguyền rủa ai. Nguyễn Thùy Dung được triệu tập làm nhân chứng, khai đúng những gì mình biết về bản sổ giả. Anh không hỏi kết quả, cũng không đọc tin về cô nữa.
Anh trở về nhà thùng ở Phú Quốc. Thùng số bảy đã được chở về, đai mây mới thay, dòng chữ khắc của ông nội được ông Lộc để hở ra, không quấn lại nữa. Mẻ chượp mới ở dãy bên cạnh vừa mở nắp. Ông Lộc múc một muỗng mắm nhĩ bằng chiếc gáo dừa cũ, rót vào chén sứ nhỏ. Khánh Toàn đưa cho An Khuê.
Cô ngửi trước, nếm sau, vẫn đúng thói quen kiểm tra như lần đầu gặp ở văn phòng Lý Thái Tổ. “Bao nhiêu độ đạm?” cô hỏi. “Cô đoán đi,” anh đáp. “Tôi không đoán trong công việc.” Anh cười, rút trong túi ra phiếu kiểm nghiệm. Bốn mươi độ. An Khuê gật đầu. “Được. Lô này xuất.”
Chiều Phú Quốc chậm xuống trên mái nhà thùng. Nắng vàng xiên qua khe tôn, rọi lên những chiếc thùng gỗ to cao quá đầu người. Những chum chượp ấy không biết ai từng cười nhạo ai, cũng không biết ai đã quỳ trên nền xi măng ướt. Chúng chỉ giữ đúng một thứ: thời gian. Khánh Toàn cuối cùng hiểu bí phương ba đời không phải một công thức bí mật để đánh bại đối thủ. Nó là kỷ luật không cho ai rút ngắn sự thật chỉ vì muốn kiếm tiền nhanh hơn.
Lô hàng xuất khẩu đầu tiên sau phiên họp lại rời Phú Quốc vào một buổi sáng biển lặng. Khánh Toàn không ra cảng chụp ảnh. Anh ở nhà thùng, kiểm tra mẻ chượp mới cùng ông Lộc. Trên mỗi thùng hàng giờ có mã lô liên kết với ngày kéo rút, vùng muối, kết quả đạm và người ký bàn giao.
An Khuê gọi từ kho. “Lô 03 có một phiếu scan mờ.” “Có bản giấy không?” anh hỏi. “Có.” “Vậy dừng mười phút, scan lại.” Người vận chuyển đứng cạnh cô sốt ruột vì xe sắp chạy, gõ chân liên tục xuống nền kho. Toàn vẫn chờ. Ba đời làm nước mắm đã dạy gia đình anh chờ mười hai tháng cho một mẻ chượp. Không có lý do gì hôm nay lại tiếc mười phút để giữ một bộ hồ sơ sạch.
Khi xe rời kho, An Khuê gửi ảnh chụp dấu niêm phong cuối cùng. Khánh Toàn chỉ trả lời bằng biểu tượng ngón tay cái. Sự tin tưởng giữa họ không còn nằm trong những câu tuyên bố lớn. Nó nằm trong những việc nhỏ được làm đúng, lặp đi lặp lại, ngày này qua ngày khác.
Cuối mùa, ông Lộc mở cuốn sổ ủ chượp cũ cho Khánh Toàn xem. Bên cạnh những dòng mực tím của ông nội, những dòng bút bi của bố anh, ông kẻ thêm một cột mới bằng thước, nắn nót ghi tiêu đề: mã lô điện tử. Khánh Toàn bật cười. “Ông nội mà thấy mã QR chắc tưởng mình vẽ bùa,” anh nói. Ông Lộc đáp, mắt không rời trang sổ: “Miễn cái bùa này giữ được mắm thật.”
Khánh Toàn chụp lại trang sổ, lưu vào kho dữ liệu cùng bản scan. Truyền thống không bị công nghệ thay thế. Nó chỉ có thêm một cách để người đi sau chứng minh mình đã làm đúng như người đi trước.
Trước Tết, Khánh Toàn in lại nhãn chai đầu tiên của nhà thùng với mã truy xuất mới. An Khuê cầm mẫu nhãn lên soi dưới đèn, bảo logo nhỏ quá. Anh đáp: “Tên mình nhỏ cũng được, miễn thông tin nguồn gốc đủ lớn để người mua đọc.” Hai người ngồi sửa nhãn đến gần nửa đêm, cãi nhau về từng milimét, ông Lộc ngồi ở góc nhà thùng ngủ gật bên ấm trà. Một thương hiệu từng suýt chết vì có người lén sửa mẫu, cuối cùng được bảo vệ bằng chính những chi tiết mà không ai còn có thể sửa trong bóng tối.