Chương 10: Thẻ Bài Giả Và Cổng Thành Đóng Sớm
Ba xe hàng ở cổng bắc được đưa vào kho niêm phong của phủ doãn, không chuyển thẳng vào cung. Mỗi hòm được đánh số trước mặt đại diện cổng thành, Binh bộ và Ngự sử đài. Dược liệu là thật, có hóa đơn từ một hiệu buôn, nhưng dưới đáy hai hòm có áo giáp nhẹ và cung ngắn. Loại vũ khí ấy không đủ trang bị một đạo quân, song đủ cho vài chục người gây hỗn loạn nếu lọt vào nội thành. Điều đáng chú ý hơn là hai thẻ bài đã báo mất từ Nội phủ được dùng để xin qua cửa sau giờ đóng.
Người áp xe tên Lưu Tam khai rằng mình nhận hàng từ một kho phía đông và được trả gấp đôi giá thường. Ông ta không biết người thuê thật, chỉ gặp một môi giới gọi là Kỷ tiên sinh. Phạm Kính không cho phép ghi lời “không biết” thành bằng chứng vô tội hay lời “Kỷ tiên sinh” thành bằng chứng buộc tội Tô gia. Ông chia nhóm điều tra: một nhóm tra tuyến hàng, một nhóm tra thẻ bài, nhóm khác lần theo tiền trả cước. Mọi lời khai phải đối chiếu với vật chứng và người khác.
Sổ cổng cho thấy trong hai tuần trước đã có ba xe khác dùng thẻ cũ vào thành vào giờ muộn, nhưng lính gác ca trước không đối chiếu danh sách hủy. Hai xe chở hàng hợp pháp, chiếc còn lại không có hồ sơ nhận tại đích. Người chỉ huy ca bị tạm đình nhiệm để giải trình. Ông ta nói danh sách hủy số đôi khi đến muộn nên lính quen nhìn dấu hơn nhìn số. Quy trình mới mà Duy Trực ban sau vụ thẻ mất vừa đủ để bắt chuyến thứ tư.
Đường tiền dẫn tới một hiệu đổi bạc có khách hàng là quản sự Tô gia. Nhưng một giao dịch với quản sự không tự chứng minh Tân hậu ra lệnh. Người quản sự tên Chu Mẫn bị gọi hỏi. Ban đầu ông nói tiền dùng mua đồ cho phủ. Khi được cho xem ngày rút bạc trùng với ngày trả cước, ông thừa nhận đã đưa tiền cho Kỷ tiên sinh để “đón người bảo vệ” vào kinh. Ông nói đó là lệnh của một người trên mình nhưng không chịu nêu tên. Phạm Kính yêu cầu tách ông khỏi những người bị hỏi khác và tiếp tục kiểm chứng.
Cùng lúc, Binh bộ phát hiện những cung ngắn có dấu của một xưởng tư ở vùng giáp Vân Quốc. Xưởng ấy bán cả hai bên biên, nên nguồn gốc không chứng minh có ngoại bang tham gia. Hồ Tín cung cấp danh sách thương nhân thường mua hàng từ vùng đó và nhận ra tên một môi giới từng cố mời ông gặp riêng. Mối liên hệ đáng nghi, nhưng một người buôn vũ khí vì lợi nhuận khác hoàn toàn một chính quyền ngoại quốc ra lệnh. Triều đình gửi yêu cầu qua kênh ngoại giao để phía Vân Quốc kiểm tra xưởng, tránh biến nghi ngờ thành cái cớ phá thỏa thuận biên giới.
Tô Ngọc Dung bị mời tạm giao quyền quản Nội phủ trong thời gian điều tra. Bà phản đối dữ dội, nói mình bị Thẩm Dao dựng bẫy. Duy Trực hỏi bà có biết Chu Mẫn trả tiền cho người đưa vũ khí vào thành không. Tô Ngọc Dung nói không. Ông hỏi bà có biết bốn thẻ mất chưa bị hủy số không. Bà nói việc đó thuộc quản sự. Câu trả lời có thể đúng ở từng việc, nhưng mô thức quản lý lỏng lẻo dưới quyền bà đã quá rõ để bỏ qua. Duy Trực không kết tội bà phản loạn; ông ra quyết định hành chính tạm giao con dấu Nội phủ cho hai nữ quan kỳ cựu cùng quản.
Thẩm Dao không vào cung trong những ngày ấy. Tô gia cho người tung tin nàng đã bí mật điều khiển cuộc bắt giữ từ Thẩm phủ. Nàng chỉ gửi thông báo rằng mình không giữ chức vụ và không tham gia hỏi cung. Phạm Kính cũng xác nhận nhóm điều tra do Ngự sử đài, Binh bộ và phủ doãn thực hiện. Cách tách vai trò này quan trọng không kém kết quả, bởi nếu Thẩm Dao xuất hiện quá nhiều, mọi chứng cứ sau đó sẽ dễ bị xem là sản phẩm của cuộc báo thù.
Cảnh Hòa được chuyển về học viện trong cung dưới bảo vệ tăng cường. Cậu bực vì bị hạn chế đi lại lần nữa. Duy Trực giải thích đây là biện pháp an ninh có thời hạn bảy ngày, không phải văn thư hạn quyền mới. Cảnh Hòa yêu cầu ghi vào sổ trực. Hoàng đế nhìn con, rồi cho ghi. Một chi tiết rất nhỏ cho thấy bài học đã đi từ Thẩm Dao sang Cảnh Hòa và cuối cùng chạm tới Duy Trực.
Đến ngày thứ năm, người môi giới Kỷ được tìm thấy tại một trạm xe ngoài thành. Ông ta không phải gián điệp lớn, chỉ là kẻ chuyên mua giấy phép và thẻ qua tay người khác để kiếm tiền. Sau nhiều lần đối chiếu, Kỷ khai Chu Mẫn thuê ông đưa mười hai người có vũ khí vào thành trước một ngày dự kiến có triều nghị. Mục đích theo lời Chu Mẫn là “bảo vệ phủ Tô nếu có biến”. Kỷ không biết có kế hoạch tấn công ai. Nhóm điều tra tìm được danh sách mười hai người và bắt tám, bốn người đã bỏ trốn.
Tám người bị bắt có lời khai không thống nhất. Ba người nói họ được thuê làm bảo vệ. Hai người nghe nói sẽ tới Tô phủ. Một người nói có thể phải “đón nương nương ra khỏi cung” nếu Hoàng đế tước ngôi. Không ai khai được kế hoạch chiếm cổng hay giết vua. Điều này khiến những tiếng gọi “phản loạn” trong triều phải hạ xuống. Phạm Kính kết luận bước đầu rằng có tổ chức đưa người vũ trang vào kinh trái phép và dùng thẻ bài vô hiệu; động cơ cuối cùng cần điều tra thêm.
Sau đó, một nữ quan của Tô Ngọc Dung chủ động xin khai. Bà nói Tân hậu nhiều ngày lo bị bắt nên từng nói phải chuẩn bị người đưa mình ra khỏi cung. Bà không nghe lệnh mở cổng cho quân ngoại quốc. Lời khai ấy vừa làm nhẹ một cáo buộc vừa làm nặng cáo buộc khác: có khả năng Tân hậu biết kế hoạch đưa người vào để phục vụ việc rời cung trái phép. Phạm Kính đối chiếu với một mẩu thư thu từ phòng Chu Mẫn, trong đó có câu “đến giờ Dậu, đợi tín hiệu đèn ở cửa đông”. Chữ viết không phải của Tô Ngọc Dung.
Duy Trực triệu Tân hậu tới và cho bà xem kết luận sơ bộ. Ông không hỏi “nàng có phản ta không” theo kiểu kịch tính. Ông hỏi bà có ra lệnh Chu Mẫn chuẩn bị đường rời cung và người hộ tống hay không. Tô Ngọc Dung cuối cùng thừa nhận đã đồng ý chuẩn bị phương án thoát khỏi cung nếu bị phế, nhưng nói không biết Chu Mẫn mang vũ khí vào thành bằng thẻ giả. Duy Trực tước quyền quản nội đình, cho bà ở lại cung riêng trong thời gian tiếp tục tra. Tội danh hình sự nếu có phải chờ hồ sơ hoàn tất.
Trong triều có người thất vọng vì không có màn bắt phản nghịch long trời lở đất. Thẩm Túc cũng hỏi chị liệu như vậy có quá nhẹ. Thẩm Dao đáp nếu chỉ có bằng chứng tới đâu thì xử tới đó. Dùng một vụ thẻ giả để gán mọi tội cho Tô Ngọc Dung có thể thỏa mãn người ghét bà ta hôm nay, nhưng ngày mai cùng cách ấy sẽ được dùng với người khác. Thẩm Túc im lặng. Cậu chưa quen việc chị mình từ bỏ cơ hội đánh đối thủ khi đang có lợi thế.
Phía Vân Quốc trả lời về xưởng vũ khí: hàng được bán qua một thương nhân tư, không có giấy mua của quân đội Vân. Họ đồng ý đóng xưởng tạm thời vì vi phạm quy định xuất hàng qua chợ biên. Biên bản thử nghiệm ở biên giới vẫn tiếp tục. Điều đó phá hẳn câu chuyện rằng Tân hậu đã “mở cửa cho ngoại địch” theo nghĩa đơn giản. Âm mưu thật nhỏ hơn nhưng vẫn nguy hiểm: một nhóm quyền thế cố dùng thẻ cung hết hiệu lực để đưa người có vũ khí vào kinh, sẵn sàng tạo hỗn loạn nếu địa vị của họ sụp.
Duy Trực ra lệnh rà toàn bộ thẻ bài, thay mẫu trong sáu mươi ngày và buộc cổng thành nhận danh sách khóa số mỗi buổi sáng. Nội phủ phản đối vì tốn kém. Hoàng đế vẫn giữ quyết định. Lần đầu, một sai phạm không kết thúc ở việc bắt vài người rồi đóng hồ sơ; nó dẫn tới thay đổi cơ chế đã cho phép sai phạm xảy ra.
Thẩm Dao nghe tin và ghi vào sổ bìa xanh rằng cổng thành đóng sớm hôm ấy không cứu một ngai vàng bằng phép màu. Nó chỉ chứng minh một người lính gác chịu tra số thẻ có thể quan trọng hơn hàng trăm lời thề trung thành. Nàng cũng biết cuộc khủng hoảng chưa kết thúc. Tô Ngọc Dung mất quyền, phe Tô gia hoảng loạn, triều thần chia rẽ về tương lai kế vị. Trong kho Tông nhân phủ, Phạm Kính vừa tìm thấy một bản chiếu của tiên đế liên quan tới trường hợp Hoàng đế mất khả năng điều hành hoặc gây khủng hoảng kéo dài. Nếu văn bản ấy là thật, nó sẽ không tự đổi ngôi. Nhưng nó có thể buộc cả triều đình phải thảo luận điều họ đã né tránh quá lâu.