Chương 8: Sắc Lệnh Khóa Cửa Thương Điếm
Tô Nhược Lan vào cung chưa đầy một tháng thì ba thứ cùng lúc trở nên khó mua: cỏ khô, dầu trục và giấy thông hành qua hai trạm gần kinh thành. Không nơi nào nói thẳng có lệnh cấm Tô gia. Chủ trạm chỉ bảo phải “xét lại”. Người bán cỏ nói hàng đã có khách đặt trước. Nha dịch thì nhận hồ sơ rồi để đó, ngày nào hỏi cũng được trả lời rằng quan phụ trách chưa xem.
Nếu là một sắc lệnh có dấu, Mạn Ninh còn biết chỗ để khiếu. Một mạng lưới sợ hãi không ký tên khó đối phó hơn nhiều.
Quế Nương trải danh sách lên bàn. “Trong mười hai nơi mình từng mua cỏ, năm nơi từ chối. Hai nơi tăng giá gấp rưỡi. Ba nơi chưa trả lời. Chỉ còn hai nơi bán như cũ.”
Hà tẩu chống cánh tay đã lành một nửa lên bàn. “Mua hết của hai nơi còn lại.”
Mạn Ninh lắc đầu. “Nếu gom sạch, họ sẽ thành cổ chai mới. Một lời nhắn khác là chúng ta hết đường.”
“Vậy cô định cho ngựa ăn sổ sách?” Hà tẩu càu nhàu.
“Ta định mua ít hơn ở nhiều chỗ hơn.”
Nàng lấy bản đồ vùng quanh tuyến, đánh dấu các làng có nghề ép dầu, chăn ngựa hoặc trồng kê. Một số nơi không phải nhà cung cấp lớn nên trước đây thương đội không để ý. Muốn mua từ họ, Tô gia phải tự gom hàng, tự chở, tốn công hơn. Đổi lại, không ai đủ sức khóa cả đoàn bằng một quyết định.
Kế hoạch ấy cần tiền mặt. Sau chuyến giao bù, quỹ lưu động của Tô gia mỏng tới mức mỗi khoản đều phải cân. Tạ gia có thể cho vay, nhưng Mạn Ninh không muốn thay sự phụ thuộc vào thương hội bằng sự phụ thuộc vào một nhà thông gia hụt.
Nàng làm việc mà cha nàng cho là điên: mở một phần sổ chuyến gần nhất cho các thương hộ nhỏ xem.
Không phải sổ riêng của gia đình, không phải danh sách toàn bộ khách hàng, mà là những con số liên quan trực tiếp đến chuyến vận lương: chi phí cỏ, hao hụt, tiền công, phí kho ngoài, số tiền đã nhận theo hợp đồng và khoản phạt vì giao thiếu. Mạn Ninh mời mười bốn chủ hàng nhỏ đến Tô phủ, nói rõ họ có thể góp vốn theo từng chuyến, nhận lợi nhuận theo tỷ lệ, nhưng cũng chịu phần lỗ nếu chuyến thất bại.
Một người cười ngay. “Cô nương đang thiếu tiền nên muốn chúng tôi gánh hộ rủi ro.”
“Đúng.” Mạn Ninh đáp.
Tiếng cười ngừng.
“Ta không bán lời hứa chắc thắng. Chuyến trước chúng ta mất năm xe, đây là số lỗ. Chuyến giao bù lợi nhuận gần bằng không. Ai thấy rủi ro cao thì đừng góp. Ai góp sẽ được xem biên nhận ở ba điểm và có quyền cử một người đi kiểm hàng.”
Một bà chủ hàng đậu tên Lâm thị hỏi: “Nếu Tô gia tự nâng chi phí lên, chúng tôi biết thế nào?”
“Chi phí trên mức đã chốt phải có hóa đơn hoặc hai người xác nhận. Cuối chuyến có thể đối chiếu với giá tại trạm. Nếu phát hiện Tô gia khai gian, phần quản lý của chúng ta bị cắt trước.”
“Nếu người của chúng tôi cản việc đoàn xe?”
“Người kiểm không được ra lệnh vận hành. Quyền dừng xe vì an toàn thuộc trưởng đoàn. Quyền dừng giao hàng vì sai niêm thuộc người kiểm. Hai quyền khác nhau.”
Cuộc bàn kéo dài hơn ba giờ. Không ai quỳ xin được góp vốn. Cuối cùng chỉ năm trong mười bốn người ký. Số tiền chưa đủ nhu cầu, nhưng đủ để mua lô cỏ đầu và thuê thêm hai xe.
Tô lão gia nhìn năm tờ khế ước, mặt nặng nề. “Con đưa chuyện nhà cho người ngoài quá nhiều.”
“Con đưa đúng phần liên quan đến tiền họ bỏ.”
“Nếu mai họ quay lại ép mình?”
“Vì vậy không ai nắm quá một phần.”
Ông không hoàn toàn đồng ý, nhưng sau những gì kho cũ gây ra, ông không còn dùng hai chữ “truyền thống” để dập mọi thay đổi.
Trong lúc Tô gia xoay vốn, áp lực từ kinh thành tăng. Một người tự xưng là thư lại của Nội phủ đến cửa hàng, không đưa văn bản mà chỉ nhắc rằng “nhà có người trong cung nên biết giữ phận”. Hắn ám chỉ nếu Tô gia ngừng hợp tác quân lương một thời gian, việc xét giấy sẽ nhanh hơn.
Mạn Ninh không gặp hắn một mình. Nàng mời Tạ Hân và một chủ quầy cùng ngồi. “Ngài tên gì?” nàng hỏi.
Người kia cau mày. “Cô nương hỏi để làm gì?”
“Để ghi người đã truyền lời.”
“Ta chỉ khuyên.”
“Vậy ta sẽ ghi là lời khuyên.”
Hắn đứng dậy, mặt khó chịu. “Có những việc ghi ra chưa chắc tốt.”
Tạ Hân lên tiếng trước khi Mạn Ninh đáp. “Không ghi mới dễ bị người khác nói sai. Tạ gia cũng nghe lời tương tự ba ngày trước.”
Người kia nhìn hắn, rõ ràng không ngờ Tạ Hân đứng cùng bàn. Hắn bỏ đi mà không để tên.
“Ngươi biết hắn không?” Mạn Ninh hỏi.
“Thấy ở ngoài Nội phủ một lần. Không chắc chức gì.”
“Vậy ghi ‘người từng xuất hiện ngoài Nội phủ’, không ghi thư lại.”
Tạ Hân cười bất lực. “Nàng thà để trống còn hơn đoán.”
“Đoán sai một chức danh là cho người khác lý do bác cả trang.”
Cùng ngày, Lục Yên gửi thư từ biên doanh. Không phải thư riêng hỏi thăm. Đó là một thông báo hành chính: do một số trạm nội địa chậm giấy, biên doanh sẽ chấp nhận lịch giao mới nếu đoàn báo trước thời điểm và vẫn giữ định mức số lượng. Hắn không thể mở đường thay nàng, nhưng ít nhất không dùng sự chậm trễ làm cớ phạt tự động.
Mạn Ninh đọc xong, chỉ nói: “Hắn cho chúng ta khoảng thở, không cho lợi thế.”
Quế Nương cười. “Cô nương nghe có vẻ hài lòng.”
“Ta hài lòng với người nói được làm được.”
Chuyến tiếp theo dùng cấu trúc mới: năm chủ phần nhỏ góp vốn, bảy điểm cung cỏ, hai kho trung chuyển và một đội kiểm hàng độc lập gồm người của Tô gia cùng người do các chủ phần cử. Nó phức tạp hơn, nhiều giấy hơn và dễ tranh cãi hơn. Nhưng khi một nhà cung cỏ đột ngột hủy bán vào tối trước ngày xuất phát, họ chỉ thiếu khoảng một phần tám lượng dự kiến. Hai điểm khác bù được trong một ngày.
Nhược Lan vẫn chưa xuất hiện trực tiếp. Tin từ cung nói nàng được phong cấp thấp hơn lời đồn ban đầu, nhưng được một vị phi lớn tuổi để mắt. Mạng lưới quanh nàng vì thế vừa thật vừa mờ: đủ khiến những người nhát sợ, chưa đủ để công khai điều động nha môn.
Mạn Ninh hiểu một điều quan trọng: nếu nàng cứ kể câu chuyện “phi tần muốn hại Tô gia”, nhiều người sẽ cho rằng chị em tranh đấu. Nàng cần tách cảm xúc khỏi việc làm ăn.
Vì vậy, mỗi lần một giấy phép bị chậm, nàng ghi ngày nộp, ngày hỏi, tên người nhận hồ sơ. Mỗi lần một nhà cung cấp rút, nàng hỏi họ có nhận văn bản nào không. Phần lớn nói không. Hai nơi thừa nhận có người tới “nhắc nhở”, nhưng không dám nêu tên.
Đến tuần thứ ba, một chủ trạm nhỏ tên Chu Đại đem đến một mảnh giấy gấp bốn. “Ta không muốn dính chuyện,” ông nói. “Nhưng người đưa cái này bảo nếu còn bán cỏ cho Tô gia, giấy thuê đất trạm của ta sẽ bị xét lại. Hắn không cho giữ giấy, ta giả vờ làm rơi rồi nhặt.”
Mảnh giấy không có con dấu. Chỉ có vài dòng ghi tên ba nhà cung cấp và một ký hiệu hình chim nhỏ ở góc.
Quế Nương thì thầm: “Dấu của Nhược Lan?”
Mạn Ninh lắc đầu. “Ta từng thấy ký hiệu tương tự trên một mảnh lụa của nàng, nhưng giống không có nghĩa cùng nguồn.”
Nàng đặt giấy vào phong bao, ghi người giao, ngày giờ và hoàn cảnh. Tạ Hân được mời làm người chứng kiến việc nhận.
“Nàng định mang nó đi tố cáo?” hắn hỏi.
“Chưa. Một giấy không dấu chỉ cho thấy có người dùng cùng ký hiệu và biết danh sách nhà cung cấp.”
“Vậy chờ gì?”
“Chờ xem tin đi qua đường nào.”
Cơ hội đến từ một chuyện nhỏ. Ba ngày sau, đoàn cần đổi tuyến vì cầu gỗ ở Thanh Kiều hỏng. Mạn Ninh quyết định phát ba bản lộ trình thử, mỗi bản chỉ khác một điểm nghỉ thứ hai và một dấu rất nhỏ ở góc giấy. Bản có chấm tròn giao cho Hà tẩu, bản có vạch chéo giao cho Trương Nguyên phụ trách xe sửa, bản có hình tam giác giao cho người liên lạc với các chủ phần.
“Đây là bẫy?” Hà tẩu hỏi.
“Là cách thu hẹp nguồn rò. Nhưng không ai được hành động chỉ vì một tuyến bị lộ. Có thể người khác nhìn thấy giấy.”
Hà tẩu gật. “Cuối cùng cô cũng học cách không cưới một kết luận ngay khi gặp nó.”
Mạn Ninh cười. Sau những ngày nặng nề, câu đùa làm nàng thấy nhẹ hơn. “Ta từng xé một hôn thư rồi. Một lần đủ.”
Đêm trước ngày đi, một người lạ bị thấy hỏi đường tới đúng điểm nghỉ chỉ xuất hiện trên bản có vạch chéo.
Mạn Ninh không bắt Trương Nguyên. Nàng chỉ đổi tuyến thật vào phút cuối, giữ nguyên ba bản giả trong tay những người nhận, rồi bố trí người theo dõi đường liên lạc quanh hắn.
Sắc lệnh chưa bao giờ thật sự khóa toàn bộ thương điếm. Điều nguy hiểm hơn là một mạng lưới không cần sắc lệnh vẫn có thể làm người ta sợ. Muốn cắt nó, nàng phải nhìn thấy từng sợi nối, không phải chém vào cái bóng lớn nhất.