Chương 10: Sự Im Lặng Của Thái Tử
Lương Cảnh Thừa kể lại chuyện năm mười sáu tuổi trước một chiếc bàn không có ngai, không có rèm và không có ai gọi anh là “người vô tội”.
Người nghe gồm Lê Doãn của Ngự sử đài, một quan Đại lý tự, Phùng Hải ghi biên bản, Mẫn phi ngồi sau bình phong vì sức còn yếu, và Đỗ An Nhiên chỉ có mặt ở phần liên quan đến vụ hiện tại.
Cảnh Thừa bắt đầu từ ngày Mai Chi bị bắt.
Cung nữ ấy phụ trách một phần dược thiện ở Đông cung cũ. Khi một nữ tỳ đang mang thai bị đau bụng rồi mất thai, người ta tìm thấy thuốc nhuận hạ trong phòng Mai Chi. Phiếu cấp thuốc sau đó mang tên Mẫn phi. Mai Chi bị thẩm vấn suốt một đêm.
“Sáng hôm sau ta đi qua ty phòng,” Cảnh Thừa nói. “Ta nghe nàng ấy kêu rằng phiếu đã bị đổi tên. Nàng xin gặp ta.”
Lê Doãn hỏi: “Điện hạ có gặp không?”
“Có.”
“Nàng nói gì?”
“Nói thuốc do người của Lục Đức Sinh mang tới, bảo là lệnh của phòng Hoàng hậu. Nàng chỉ cất tạm rồi giao lại. Nàng nói có sổ trực chứng minh mình không mở kho giờ ấy.”
“Điện hạ đã kiểm sổ?”
“Không.”
“Vì sao?”
Cảnh Thừa im rất lâu.
“Ta đến gặp Hoàng hậu. Bà nói Mai Chi đang kéo Mẫn phi vào để thoát tội. Bà nói nếu ta cho người kiểm lại, triều thần sẽ nghĩ Đông cung chia phe giữa sinh mẫu và dưỡng mẫu. Khi đó ngôi Thái tử của ta mới lập chưa đầy ba tháng.”
“Điện hạ quyết định thế nào?”
“Ta bảo người dưới xử theo hồ sơ đã có.”
Phùng Hải dừng bút một khắc rồi viết tiếp.
An Nhiên nhìn Cảnh Thừa. Anh không tránh mắt nàng.
“Mai Chi sau đó thế nào?” Lê Doãn hỏi.
“Bị đày khỏi cung. Ta nghe nói nàng chết trên đường vì bệnh.”
Mẫn phi sau bình phong ho một tiếng rất nhẹ.
Cảnh Thừa nhắm mắt.
“Ta đã tự kể với mình rằng ta không ra lệnh đánh nàng, không sửa phiếu, không giết nàng. Ta dùng từng điều đúng nhỏ để che một điều lớn: ta biết hồ sơ có thể sai mà vẫn không cho kiểm.”
Không ai đáp.
Lê Doãn hỏi tiếp về Lục Đức Sinh, Tạ Vân Dung, việc chuyển người và những ai có mặt. Có chỗ Cảnh Thừa nhớ, có chỗ không. Mỗi lần không chắc, ông bắt ghi “không nhớ rõ”, không cho anh tự lấp khoảng trống.
Khi buổi lấy lời kết thúc, Cảnh Thừa ký vào từng trang.
An Nhiên chờ anh ngoài hành lang.
“Thiếp tưởng điện hạ sẽ tìm cách nói nhẹ hơn.”
“Ta đã nói nhẹ với chính mình mười năm.”
“Và bây giờ?”
“Bây giờ ta không biết phải sửa thế nào.”
An Nhiên nhìn anh. “Bắt đầu bằng việc không biến ‘sửa’ thành một câu xin lỗi thiếp.”
“Ta biết.”
“Thu Cúc cần được bảo vệ. Mẫn phi cần quyền từ chối gặp ngài. Gia đình Mai Chi nếu còn người phải được tìm và xem có thể phục hồi danh dự hay bồi hoàn gì. Còn vụ hiện tại phải để người khác thẩm tra, kể cả phần liên quan đến ngài.”
Cảnh Thừa gật.
“Ta sẽ tâu phụ hoàng.”
An Nhiên ngạc nhiên. “Tâu gì?”
“Xin tạm giao quyền duyệt chuyển nhân sự và cấp phát đặc biệt của Đông cung cho một nhóm quản sự do phụ hoàng chỉ định cho đến khi thẩm tra xong. Ta vẫn xử việc chính sự, nhưng không tự quyết phần hồ sơ đang bị xem.”
“Điện hạ biết người ta sẽ nói ngài yếu?”
“Ta từng sợ câu đó đến mức để một người chết.”
Đây không phải một tờ cam kết riêng An Nhiên ép anh ký trước mặt vài đại thần. Đó là một bản tấu tự đặt quyền lực của mình dưới kiểm soát, có hậu quả chính trị thật.
Hoàng đế chấp thuận một phần.
Cảnh Thừa không bị đình chỉ ngôi Thái tử, nhưng trong ba mươi ngày, mọi chuyển người, mở kho đặc biệt và cấp dược ngoài định mức ở Đông cung phải có thêm chữ của một quản sự do Nội vụ phủ cử và bản sao gửi Ngự sử đài. Hồ sơ vụ cũ được mở lại ở mức xem xét oan sai hành chính.
Triều đình xôn xao.
Có người nói An Nhiên khống chế chồng. Có người nói Cảnh Thừa bất hiếu với Hoàng hậu. Có người nói một vụ cung nữ chết đã lâu không đáng làm lớn.
Đỗ Văn Sâm gửi con gái một bức thư ngắn: “Nếu con đã chọn làm rõ thì làm cho đúng. Đừng nửa đường vì sợ tiếng mà dừng.”
An Nhiên đọc rồi cất vào hộp.
Đúng lúc ấy, Đại lý tự bắt được Lục Đức Sinh.
Ông ta bị tìm thấy ở một nhà trọ ngoài bến sông, chưa rời kinh. Không có vàng bạc lớn, chỉ có tiền đủ đi vài tháng và giấy nợ của con nuôi.
Tề Mậu vẫn mất tích.
Lục Đức Sinh ban đầu chỉ nhận bỏ vị trí vì sợ bị đổ hết trách nhiệm. Ông phủ nhận việc chiếc trâm, Thu Cúc và cháy Tây viện.
“Ta quản hàng trăm việc,” ông nói khi được hỏi về những phiếu sai. “Một hai tờ thiếu chữ không thể biến ta thành kẻ đầu độc.”
An Nhiên không tham gia thẩm vấn trực tiếp, nhưng được đọc phần liên quan đến Đông cung.
Nàng phải thừa nhận ông nói đúng một nửa: thiếu chữ không chứng minh đầu độc.
Vì thế người điều tra không hỏi “ông có đầu độc không” liên tục. Họ đối chiếu từng việc.
Ngày chiếc trâm rời kho, Lục Đức Sinh có mặt ở khu giao ca. Phiếu dược sai có dấu Trần Kính và ký hiệu nội bộ của phòng ông. Tề Mậu là người của ông. Phiếu chuyển Thu Cúc do ông đề nghị. Xe than được ông ký cho rời cửa. Người thuê kho phía nam nhận tiền qua cửa hàng có quản sự là con rể một người quen của ông.
Mỗi việc riêng lẻ có thể giải thích.
Đặt cạnh nhau, khoảng trống để giải thích ngày càng nhỏ.
Sang ngày thứ ba, Lục Đức Sinh thừa nhận ông đã làm theo yêu cầu của Tề Nhược Mai, nữ quan Khôn Ninh cung, để “dọn vài đường đi” trước lễ cưới.
“Yêu cầu gì?”
Ông ta nói được dặn cho một gói hương vào đồ của Thanh Lệ, đưa một chiếc trâm qua kênh không ghi sổ và chuẩn bị người có thể bị đổ lỗi nếu sau này xảy ra chuyện.
“Ông biết trên trâm có gì?”
“Không. Ta không bôi.”
“Ai bôi?”
“Tề Mậu nhận hộp rồi trả lại.”
“Vì sao ông làm?”
Lục Đức Sinh im rất lâu.
Cuối cùng ông kể con nuôi bên ngoài cờ bạc, nợ lớn. Tề Nhược Mai giúp dàn xếp, đổi lại yêu cầu ông “trông nom vài việc”. Ban đầu chỉ là chuyển đồ không qua sổ, sau thành cấp thuốc, sửa phiếu, chuyển người.
“Ông có thể từ chối.”
“Ta đã ở trong cung ba mươi năm. Từ chối người của Hoàng hậu rồi sống bằng gì?”
Quan thẩm tra đáp: “Đó là lý do. Không phải miễn trách nhiệm.”
Lục Đức Sinh cúi đầu.
Ông vẫn không nói Hoàng hậu trực tiếp ra lệnh. Mọi yêu cầu đều qua Tề Nhược Mai hoặc Tề Mậu.
“Vậy bà ấy có thể nói người dưới tự làm,” Cảnh Thừa nói khi đọc biên bản.
“Có thể,” An Nhiên đáp. “Và nếu đúng là người dưới tự làm thì chúng ta phải chấp nhận.”
“Nàng tin thế sao?”
“Ta tin kết luận phải chịu được câu hỏi đó.”
Ngay chiều ấy, Thanh Lệ được triệu đến Khôn Ninh cung.
Nàng từ chối đi một mình.
Hoàng hậu gửi lời rằng nếu cháu gái sợ cô ruột đến mức cần người đi kèm, từ nay đừng gọi bà là cô mẫu nữa.
Thanh Lệ đọc xong, ngồi im rất lâu.
“Ta vẫn muốn đi,” nàng nói. “Nhưng có nữ quan trung lập đi cùng.”
An Nhiên không ngăn.
Cuộc gặp kéo dài gần một canh giờ. Khi về, Thanh Lệ mang theo một câu của Hoàng hậu.
“Bà nói người ở vị trí như bà không thể biết từng việc người dưới làm. Nếu Tề Nhược Mai lạm quyền, bà sẽ giao người.”
“Tề Nhược Mai đâu?”
“Bà nói đã mất tích từ hôm đạo chỉ giả bị phát hiện.”
An Nhiên nhìn Phùng Hải.
Một người nữa biến mất.
Nhưng lần này, họ không còn chỉ chờ.
Các cửa thành đã có danh sách. Bến sông có người kiểm giấy. Nhà Tạ gia và các trang viên liên quan bị yêu cầu kê người ra vào theo lệnh của cơ quan thẩm tra.
Đến sáng hôm sau, Tề Nhược Mai bị giữ tại một am ngoài thành, nơi nàng xin trú dưới tên khác.
Trong hành lý không có mật thư của Hoàng hậu.
Có ba chiếc thẻ nội cung, một chìa phụ hộp ấn và bản nháp của đạo chỉ đuổi An Nhiên khỏi Đông cung.
Đó là bằng chứng mạnh về việc nàng giả lệnh.
Nhưng vẫn chưa phải bằng chứng Hoàng hậu ra lệnh.
Buổi tối, Cảnh Thừa ngồi bên An Nhiên dưới hiên.
“Ta từng nghĩ chỉ cần bắt được một người, mọi thứ sẽ sáng.”
“Thiếp cũng từng nghĩ chỉ cần biết trước chuyện gì xảy ra là có thể tránh hết.”
“Nàng lại nói như đã sống qua nó.”
An Nhiên nhìn chiếc vòng bạc.
“Có lẽ thiếp đã sống qua một phiên bản của nó trong đầu.”
Cảnh Thừa không hỏi thêm.
Một lúc sau anh nói: “Nếu sau cùng mẫu hậu không trực tiếp ra lệnh, nàng sẽ làm gì?”
“Chấp nhận điều đó. Nhưng việc một hệ thống dưới tay bà có thể làm từng này mà không bị kiểm vẫn là trách nhiệm quản trị.”
“Còn nếu bà có ra lệnh?”
“Thì để người có quyền xử.”
“Nàng không muốn tự tay trả thù?”
An Nhiên khẽ cười.
“Thiếp muốn sống hơn.”
Cảnh Thừa gật.
Lần đầu tiên giữa họ, sự im lặng không còn là trốn tránh.
Nó chỉ là khoảng nghỉ trước phiên đối chất mà cả hai đều biết sẽ quyết định không phải ai thắng một ván cung đấu, mà liệu những gì họ đã ghi lại có đứng vững khi bị người khác hỏi ngược hay không.