Chương 11: Phiên triều xét
Phiên xét lại vụ Nguyễn gia được đưa lên kinh vì nó không còn là chuyện của một thương hộ.
Hồ sơ đã chạm tới thuế muối, kho sắt, quan lại địa phương và việc một thương cục dùng vị thế thị trường để che hàng ngoài sổ. Bộ Hộ, Đại lý tự và Đô Sát viện cùng cử người thẩm tra.
Nguyễn Cẩm Tú được gọi với tư cách người cung cấp chứng cứ.
Trước ngày vào công đường, Nguyễn Đức Thành hỏi nàng lần cuối:
“Con có thể chỉ nộp những bức thư sau khi cha dừng hợp tác. Những thư trước không cần thiết để chứng minh đoàn thứ mười ba là giả.”
Cẩm Tú nhìn ông.
“Cần.”
“Để làm gì?”
“Để họ biết vì sao Trịnh gia có thể đe dọa cha. Nếu giấu phần đó, câu chuyện sẽ thành Nguyễn gia hoàn toàn vô tội rồi tự nhiên bị vu oan. Không đúng.”
Ông không nói thêm.
Ngày xét, Trịnh Thế Hào vẫn bình tĩnh.
Hắn không phủ nhận hai nhà từng hợp tác. Lập luận của hắn rất rõ: Nguyễn Đức Thành tự nguyện cho hàng ghép chuyến; sau đó khi sự việc bị phát hiện thì đổi lời, đổ trách nhiệm cho Trịnh thị.
“Một thương gia phạm pháp giờ muốn dùng con gái xây được chút danh tiếng để rửa tên.” hắn nói.
Cẩm Tú không phản ứng.
Phạm Duy Khiêm trình chứng cứ theo thứ tự thời gian.
Đầu tiên là các chuyến Nguyễn gia thực sự có tham gia. Thư từ cho thấy Nguyễn Đức Thành từng chấp nhận một số hàng ngoài sổ và có trách nhiệm với phần ấy.
Nguyễn Đức Thành cúi đầu nhận.
Tiếp theo là thời điểm ông dừng hợp tác: thư yêu cầu không cho đoàn mười ba qua Hà Khẩu, bản tố cáo có dấu đã nhận của phủ và bản báo mất lô thẻ xe trước vụ bắt.
Sau đó là đoàn hàng bị dùng để kết án Nguyễn gia: thẻ thuộc lô đã báo mất, số lượng trong biên bản Hà Khẩu không khớp bản xuất kho và bản nhận hàng, chiếc cân dùng khi bắt giữ bị thay ngay sau vụ án, người áp tải Lưu Bách nhận khoản bạc lớn từ một ngân trang có liên hệ Trịnh thị.
Cuối cùng là vụ kho Đông Khê xảy ra một năm sau.
Cùng phương thức: hàng được đặt vào qua cửa phụ, bao bì cũ của Trịnh gia bị thay nắp, người trung gian nhận tiền từ quản sự Trịnh Khang.
Hai vụ cách nhau nhưng cấu trúc quá giống nhau để bỏ qua.
Trịnh Thế Hào nói:
“Quản sự làm sai không có nghĩa chủ gia ra lệnh.”
Điểm này không ai phản bác.
Đại lý tự yêu cầu chứng minh trách nhiệm cá nhân.
Chứng cứ đến từ sổ ngân trang.
Khoản trả cho Lưu Bách và khoản đưa cho Triệu Lục đều xuất phát từ tài khoản chi “bảo trì bến” của Trịnh thị. Ba phiếu rút tiền có chữ duyệt của Trịnh Thế Hào. Hắn nói mình chỉ ký chi tổng, không biết người dưới dùng làm gì.
Nhưng một lá thư khác của Trịnh Khang gửi hắn có câu:
“Chuyện thẻ Nguyễn đã sắp xếp. Sau ngày mười bảy, bến Hà Khẩu sẽ không còn người tranh.”
Ở góc thư là nét phê của Trịnh Thế Hào: “Làm sạch phần đuôi.”
Hắn giải thích “phần đuôi” là khoản nợ thương mại.
Đô Sát viện đưa ra sổ mua lại bến sau vụ tịch biên: Trịnh thị đã chuẩn bị ngân khoản mua tài sản Nguyễn gia trước ngày mười bảy.
Không một chứng cứ riêng lẻ đủ kể toàn bộ câu chuyện.
Nhưng chúng nối thành một chuỗi: biết trước Nguyễn gia sẽ bị đánh sập, chuẩn bị tiền mua tài sản, dùng thẻ đã mất tạo đoàn hàng, sửa số liệu tại trạm và thanh toán cho người đổi dấu.
Trịnh Thế Hào không còn cười.
Phiên xét kéo dài hai ngày.
Kết luận cuối không làm bất kỳ gia tộc nào “sạch” hoàn toàn.
Nguyễn Đức Thành bị xác định từng hỗ trợ vận chuyển hàng ngoài sổ trong giai đoạn đầu và phải chịu trách nhiệm về các chuyến có chứng cứ ông biết. Tuy nhiên bản án cũ quy toàn bộ số hàng lậu và tội tổ chức đường dây cho Nguyễn gia bị hủy vì dựa trên vật chứng và biên bản bị làm giả. Những người nhà chỉ bị liên lụy theo án cũ được phục hồi thân phận và trả lại phần tài sản còn có thể xác định không liên quan vi phạm.
Trịnh Khang, các thư lại nhận tiền và người trực tiếp tạo chứng cứ giả bị xét theo từng hành vi.
Trịnh Thế Hào bị truy trách nhiệm về việc tổ chức mua chuộc, làm giả đường hàng và lợi dụng vụ án để thâu tóm tài sản. Phần lợi bất chính từ các bến, kho mua qua việc cưỡng ép sau vụ án bị phong tỏa để hoàn trả hoặc sung công tùy nguồn.
Trịnh gia không bị “diệt tộc”.
Những người không tham gia không tự động có tội.
Nhưng thương cục mất quyền thuê độc quyền ở Hà Khẩu và các hợp đồng muối phải đấu lại.
Khi quan chủ thẩm hỏi Cẩm Tú có yêu cầu trả toàn bộ tài sản cũ về Nguyễn gia không, nàng đáp:
“Chỉ phần nào chứng minh thuộc Nguyễn gia và bị lấy trực tiếp từ bản án sai. Những tài sản sau đó đã bán hợp pháp cho người thứ ba xin xử theo luật, không thể vì nhà ta được xét lại mà lấy của người khác.”
Nguyễn Đức Thành ngẩng lên nhìn con gái.
Có lẽ đến lúc ấy ông mới hiểu nàng thật sự không tới đây để dựng lại quyền lực cũ.
Cuối phiên, Bộ Hộ chuyển sang một vấn đề khác.
Hạn hán miền bắc làm ba châu thiếu lương. Triều đình đang cần vận chuyển gấp, nhưng sau vụ Trịnh gia, không ai muốn tiếp tục giao toàn bộ việc cung ứng cho một đại thương cục.
Một quan Bộ Hộ hỏi Cẩm Tú:
“Liên Thương Hội của cô có thể đưa lương qua ba tuyến khác nhau trong hai tháng không?”
“Có thể thử.”
“Thử?”
“Nếu chưa kiểm kho, xe, nước sông và sức chứa từng trạm mà thần nữ nói chắc chắn, đó chỉ là lời khoe.”
Vài người trong điện bật cười.
Vị quan kia lại gật đầu.
“Vậy kiểm đi. Ba ngày sau nộp phương án.”
Cẩm Tú bước khỏi công đường khi trời đã tối.
Phạm Duy Khiêm chờ ở bậc đá.
“Nguyễn gia được rửa phần oan.” hắn nói.
“Ừ.”
“Cô không vui?”
“Có.”
“Nhìn không giống.”
Cẩm Tú nhìn đoàn xe đang qua phố.
“Ta từng nghĩ ngày này đến thì mọi thứ sẽ trở lại như trước.”
“Bây giờ?”
“May mà không.”
Nếu trở lại như trước, Nguyễn gia sẽ vẫn muốn nắm một tuyến, Trịnh gia nắm tuyến còn lại và người dân vẫn phải sống theo giá mà vài nhà lớn thương lượng sau cánh cửa đóng.
Nàng đã mất một gia tộc cũ.
Nhưng trong lúc tìm cách sống sót, nàng dựng được một mạng lưới không thuộc về riêng mình.
Ba ngày sau, Cẩm Tú mang phương án cứu tế tới Bộ Hộ.
Không phải một tuyến.
Là bốn tuyến, ba nhóm thương nhân, hai mức dự phòng và một điều khoản nàng viết đậm ở đầu:
Không một nhà cung ứng nào được nắm toàn bộ lượng hàng.