Chương 96: Người Chết Ba Nghìn Năm?
“Đừng mở Cửu Môn.”
Thanh Nghi nói rất khẽ.
Tiểu Bảo nhìn nàng, rồi nhìn mặt vật nhạt màu trước ngực bộ xương. “Dòng cuối?”
Nàng gật đầu. “Mấy chữ ấy ta đọc được.”
Người thợ đang định cầm thanh nạy lên thì dừng tay. Ông nhìn về hai phiến đá lớn ở phía trong, rồi nhìn sang cái hốc nhỏ có viền riêng bên cạnh.
“Cửu Môn là cái nào?”
“Ta chưa biết.”
Thanh Nghi không đổi câu trả lời chỉ vì ba người đang chờ nàng nói thêm.
Ánh đèn giữ yên trên mặt khắc. Nhìn kỹ hơn, tấm vật trước ngực có sắc xanh rất nhạt ở phần cạnh, chỗ nào chưa bị thời gian làm mờ thì mặt vẫn nhẵn. Thanh Nghi gọi nó là ngọc bài, nhưng không đưa tay tháo sợi dây treo đã mục. Phần trên có những nét nhỏ chen sát nhau; một chỗ bị vải mục che, một chỗ mặt ngọc sứt mẻ tới tận đường khắc.
“Còn phía trên?” Tiểu Bảo hỏi.
“Có chữ nhận ra, có chữ không. Đọc từng chữ rời thì chưa thành được một câu chắc chắn.”
Hắn nhìn bộ xương ngồi lặng dưới lớp áo rách. Hàng chữ cuối nằm đúng chỗ người tới sau có thể nhìn thấy. Nếu chỉ đọc được một câu, thì câu ấy lại bảo đừng mở. Tiểu Bảo bỗng tiếc chiều qua mình đã không chọn một miếng kê khác. Tiếc xong, hắn biết tiếc cũng chẳng giúp hắn hiểu vì sao dưới Thái Huyền lại có người ngồi chết bên một cánh cửa đá.
Thanh Nghi lấy từ túi áo ra một cuốn sổ tập mỏng, kẹp bên trong là một mẩu bút than ngắn. Nàng đỡ sổ trên lòng bàn tay, chép lại những nét còn nhìn thấy. Chỗ bị che thì để trống, chỗ chưa chắc thì đánh một dấu nhỏ bên cạnh, nhất quyết không tự nối thành chữ mình muốn đọc.
Tiểu Bảo đứng thấp hơn nàng một bậc, nhìn vết than chạy trên giấy.
“Ở nhà nàng học cả loại chữ này à?”
“Một phần. Mấy bản chú kiếm cũ dùng dạng chữ khác với bản chép mới. Muốn biết người xưa nói gì thì trước hết phải học đọc đã.”
“Khó hơn học kiếm không?”
“Có lúc.”
Tiểu Bảo nhìn những chỗ nàng vừa bỏ trống, tin ngay lập tức.
Thanh Nghi dừng bút ở một cụm chữ gần mép trên, còn lộ ra ngoài lớp vải. Nàng nghiêng đầu, chờ người giữ đèn đổi góc chiếu một chút rồi nhìn lại.
“Chỗ này có thể là niên hiệu.”
“Niên hiệu?”
“Tên dùng để ghi thời gian.”
“Bao lâu?”
Nàng không đáp ngay. Đầu bút than dừng trên trang giấy, chưa hạ xuống.
“Trong phần niên biểu kèm theo những bản chú kiếm ở nhà, ta từng thấy dạng chữ gần giống thế này. Nếu ta nhận đúng, nó thuộc về thời cách đây chừng ba nghìn năm.”
Tiểu Bảo ngẩng phắt đầu. “Ba nghìn?”
“Phải đối chiếu lại sách. Có một nét bị mòn, ta chưa chắc.”
Hắn nhìn bộ xương. Người thợ cũng nhìn. Một đời người, Tiểu Bảo còn chưa sống hết đoạn đầu; ba nghìn năm dài tới mức hắn không biết phải xếp bao nhiêu đời nối nhau cho vừa.
“Người này chết từ ba nghìn năm trước à?”
Thanh Nghi lắc đầu. “Ta đang nói về dòng khắc. Ngọc có thể được truyền lại. Người mang nó chết lúc nào, ta chưa biết.”
Tiểu Bảo nhìn từ tấm ngọc xuống những đốt xương ngón tay đặt trên đùi. Hai thứ nằm cạnh nhau, nhưng không vì thế mà cùng một số tuổi. Hắn ghi nhớ cả hai điều: có thể rất, rất cũ, và vẫn chưa biết người này là ai.
Người thợ nghe xong, ngước nhìn lối sáng phía trên. “Vậy càng phải báo người có nghề tới xem. Đừng lấy ngọc bài xuống.”
Thanh Nghi gật. “Ta chỉ chép phần nhìn thấy.”
Nàng viết nốt hàng cuối bằng chữ thường ở mép trang, để khi ra ngoài khỏi phải dựa vào trí nhớ mà kể sai đi.
Đừng mở Cửu Môn.
Tiểu Bảo nhìn câu ấy hiện ra trên giấy, thấy nó nặng nề hơn cả lúc còn nằm trên tấm ngọc.
Hai phiến đá lớn vẫn ghép kín. Trong cái hốc nhỏ bên cạnh, mặt phẳng tối màu cũng không thay đổi gì; viền hốc bắt ánh đèn thành một đường mảnh, tách nó riêng khỏi cánh cửa lớn.
Tiểu Bảo nhìn chín cái vòng ở chân cột. “Cửu là chín?”
“Ừ.”
“Vậy chín vòng với Cửu Môn…”
Hắn nói tới đó thì ngừng. Thanh Nghi nhìn theo, đáp:
“Có thể liên quan. Nhưng ta chưa đọc được câu nào nói vòng là cửa.”
Người thợ nhấc thanh nạy khỏi chỗ để, giữ đầu dụng cụ chúc xuống. “Dù gọi là gì, hôm nay không mở cái nào hết.”
Tiểu Bảo không phản đối. Thứ hắn xuống đây tìm đã ở ngoài kia với người coi gia cầm rồi. Giờ chỉ còn phải đem cái nồi ra, cùng với gói kim loại một đồng vẫn nằm trong túi áo. Hắn sờ gói vải qua lớp áo, kiểm tra nó vẫn còn nguyên.
Thanh Nghi khép sổ, kẹp bút than vào trong rồi cất lại vào túi. Nàng nhìn ngọc bài thêm một lần, khẽ nói:
“Chúng ta đã đọc được lời này.”
Không có tiếng đáp. Tấm ngọc vẫn nằm trước ngực người chết.
Tiểu Bảo lùi lên một bậc, nhường chỗ cho người thợ đi trước. Ông dặn người phụ việc giữ đèn soi lối, còn mình mang thanh nạy ra ngoài báo lại cho rõ những gì vừa thấy. Bước chân ông lên tới chỗ có ánh sáng ban ngày. Bên ngoài có giọng ai hỏi gì đó; ông đáp ngắn gọn rồi bảo họ đừng xuống thêm.
Thanh Nghi nhìn Tiểu Bảo. “Lấy nồi.”
Hắn gật, cúi xuống hai đầu vải đang phủ hờ. Rồi hắn nhớ ra lúc ở phòng mình đã đưa miếng kim loại lại gần thế nào. Nó vẫn nằm trong túi áo bên trái; nếu ôm nồi sát người để bước lên, khoảng cách giữa hai vật sẽ ngắn đi nhiều.
Tiểu Bảo đứng thẳng dậy, lấy gói nhỏ ra.
“Nàng cầm hộ cái này một lát được không? Giữ cách xa nồi ra.”
Thanh Nghi nhìn gói vải, đưa tay trái nhận lấy, không mở ra. “Lên ngoài rồi trả ngươi.”
Nàng đi trước một bậc cho khoảng cách giữa gói kim loại và chiếc nồi rộng thêm, tay phải để trống, mắt vẫn dõi theo chỗ hắn đặt chân.
Lúc này Tiểu Bảo không còn ôm gà, cũng không phải vừa giữ mảnh kim loại vừa xách nồi. Hắn đưa tay về phía quai, định buộc vải như đã chuẩn bị từ tối qua.
Cộc.
Bàn tay hắn khựng lại giữa chừng.
Không phải tiếng thanh nạy; người thợ đã mang nó ra ngoài rồi. Cũng không phải chân Ô Kê làm gỗ kêu; con gà cũng đã ra khỏi đây. Âm thanh lần này vang lên ngay bên dưới bậc đặt nồi.
Tiểu Bảo nhìn lớp kim loại đen bọc quai. Tấm vải phủ miệng nồi vừa khẽ nhúc nhích, trong khi hắn còn chưa chạm vào.
Thanh Nghi cũng nhìn xuống.
“Ngươi nghe thấy?” Tiểu Bảo hỏi.
“Có.”
Một chữ rất ngắn. Nhưng ít nhất lần này không chỉ mình hắn nghe.
Tiểu Bảo rụt tay về, chân vẫn giữ trên bậc.
Một tiếng cộc khác đáp lại, nghe như vọng tới từ phía cái hốc nhỏ cạnh cửa đá.