Chương 144: Người Nhận Lượt Sau
Sáng hôm sau, Tạ Tiểu Bảo tới kho và thấy mười một chiếc bình nằm trên bàn.
Hắn dừng ở cửa, đếm lại. Vẫn mười một.
Hôm qua đã giao đủ mười hai chiếc. Mười một chiếc đi trước, một chiếc có nắp tới sau; hắn còn nhìn người coi kho đối hai mảnh giấy xác nhận. Bảo bước tới gần, định xem chiếc bình cuối cùng có bị để quên ở đâu không thì người coi kho từ gian trong đi ra.
“Con tưởng giao xong rồi ạ.”
“Đúng. Đây là bình trả về.”
“Mười một chiếc?”
“Ừ.”
Bảo nhìn ông. “Còn một chiếc?”
“Ở lại với người trực ngoài trạm.”
Người coi kho lấy ra tờ giấy nhận lại, đặt cạnh phiếu giao hôm qua. Chiếc bình đi sau đã tới đúng người, nhưng đội kiểm tuyến chỉ mang về mười một. Người ở lại trạm cần một bình cho ca kế tiếp. Trên tờ trả đồ ghi rõ số và nơi giữ, nhưng không ghi chiếc ở lại là chiếc nào.
“Có cần biết không ạ?” Bảo hỏi.
“Nếu các bình đổi cho nhau được thì chỉ cần số. Nhưng hai chiếc trong này có dấu riêng ở đáy. Ta phải xem chiếc ở lại có phải một trong hai không.”
Bảo nhìn những chiếc bình xếp sát nhau. Hôm qua hắn chỉ kiểm nứt và nắp; hắn không nhớ dưới đáy có dấu riêng. Người coi kho bảo hắn ngồi, đưa từng chiếc qua bàn cho ông xem. Hắn nhấc chiếc gần nhất, xoay đáy về phía ông.
Dưới đáy có một vết lõm tròn, nhưng không có nét khắc. Người coi kho đặt nó sang một bên. Chiếc thứ hai có một vệt màu men, chiếc thứ ba còn dính ít đất. Tới chiếc thứ sáu, ông dừng tay.
“Dấu này.”
Bên dưới lớp men là hai vạch ngắn song song. Bảo cúi gần hơn. Chúng không giống những nét ở chân cửa, cũng không nằm trên đá; đây chỉ là dấu để phân biệt một chiếc bình. Hắn không vẽ lại, chỉ hỏi người coi kho chiếc có dấu dùng làm gì.
“Bình của y vụ. Hai chiếc gửi theo để phòng cần dùng, phải trả về đúng chỗ.”
“Đội giữ một chiếc ở trạm có biết không?”
“Ta chưa biết họ giữ chiếc nào.”
Họ tìm tiếp. Chiếc bình có dấu thứ hai nằm ở cuối hàng, miệng còn buộc một đoạn vải nhỏ. Người coi kho kiểm cả hai, ghi vào giấy trả rằng đồ của y vụ đã có đủ. Ông bảo Bảo buộc lại dải vải trên chiếc thứ hai cho khỏi rơi; bàn tay Bảo vừa kéo một đầu, nút còn lại đã tuột.
“Con buộc lại được không?”
“Được. Đừng buộc qua miệng bình, chỉ giữ dải vải với quai.”
Bảo làm chậm, thắt một nút gọn. Người coi kho kiểm rồi đặt hai chiếc riêng ra. Ông chưa yêu cầu hắn mang chúng sang y vụ; một người khác sẽ tới nhận cùng giấy.
“Hôm qua con đã đếm bình sạch, nhưng không nhìn dấu dưới đáy,” Bảo nói.
“Hôm qua ta bảo ngươi kiểm nứt và nắp. Phần nhận đồ của y vụ là ta đối.”
“Nếu chiếc ở lại là của y vụ thì sao?”
“Ta sẽ hỏi nơi giữ, không viết là đã về đủ.”
Bảo nhìn mười một chiếc bình. Con số không đổi, nhưng sau khi nhìn đáy, người coi kho biết thêm hai chiếc phải chuyển tới đâu. Hắn lấy đầu than định ghi vào mảnh giấy của mình. Người coi kho bảo không cần chép toàn bộ giấy kho; nếu muốn nhớ, cứ ghi điều mình đã học, đừng mang phiếu đi.
Bảo viết: khi nhận lại, hỏi số còn giữ và xem đồ có dấu riêng. Hắn đọc thầm một lượt, cất giấy vào túi.
Chưa tới giờ ăn trưa, một người từ chỗ Hứa Đồng tới tìm hắn. Người ấy hỏi hắn có rảnh sang phòng quản sự không. Bảo báo với người coi kho; ông xem phần việc đã xong, cho hắn đi và nhắc trước khi về nhớ hỏi ca hôm nay đã được ghi hay chưa.
Trong phòng, Hứa Đồng không ngồi một mình. Người mang tập giấy Bảo gặp hôm qua cũng có mặt. Trên bàn là tờ tổng hợp đã kẻ thêm ba cột, bên cạnh có một tờ khác với hai dòng được đánh dấu.
“Đây là người phụ trách nhận báo từ đội kiểm tuyến,” Hứa Đồng nói. “Người ấy cần hỏi ngươi về chỗ cửa hẹp.”
Người kia tự giới thiệu, rồi đưa cho Bảo xem một bản phác đường. Một nét dài chỉ hành lang, các đoạn ngang là chỗ rẽ. Ở gần cuối có hai dấu cửa nằm cách nhau không xa. Bảo nhận ra chỗ hạ cáng, nhưng phải nhìn thêm một lúc mới chỉ được vị trí.
“Cửa con thấy dấu ở bên này.” Hắn đặt ngón tay cạnh nét trái, không chạm vào mực. “Còn phòng có tượng ở chỗ khác.”
“Ta cũng đọc như vậy trong sổ,” người nhận báo nói. “Nhưng trong phiếu đường cũ chỉ có một ô cho tên cửa. Hai chỗ được chép sát nhau, người chưa xuống đó có thể tưởng cùng một cửa.”
Bảo nhìn tờ phiếu. Người viết đã dùng khoảng trống ở mép để thêm chữ, nhưng đường gấp chạy ngang dòng ấy. Khi gấp phiếu lại, hai chữ cuối nằm ở mặt sau.
“Hôm qua có phải thúc tới hỏi đường mở chưa?” hắn hỏi.
“Phải. Ta hỏi nhiều người, nhưng chỉ đội kiểm tuyến mới xác nhận được.”
“Có kết quả chưa ạ?”
“Đoạn ngoài có người kiểm và chuyển đồ. Đường vào sâu chưa được phép đi lại tự do. Họ còn xem một chỗ nền có thay đổi.”
Bảo không xin xuống. Hắn hỏi liệu đội phụ trách di tích đã nhận được ghi chú về khoảng cách khác nhau giữa hai bản chép chưa. Hứa Đồng chỉ vào một dòng ở đầu giấy: đã chuyển và có người nhận. Phần kiểm dấu thật vẫn để trống, chờ đường được xem xong.
Người nhận báo đặt bút lên tờ phác. “Ta muốn ngươi nói lại từ chỗ đoàn dừng ở phòng tượng tới cửa hẹp. Chỗ nào không nhớ thì cứ nói.”
Bảo kéo ghế. Hắn kể lúc cả nhóm chuyển cáng, chỗ đặt đèn, nơi đổi tay, rồi đến cửa hẹp. Hắn không cố nhớ số bước. Có một đoạn hắn biết đi qua góc rẽ nhưng không chắc khoảng cách; người nhận báo ghi câu ấy bên cạnh đường phác, không vẽ thêm cho kín.
Đến chỗ dấu ở chân cửa, Bảo lấy tay chỉ thấp xuống, rồi nhận ra trên giấy không có chiều cao. Hắn xin một mảnh giấy vụn, vẽ cửa thành hai cạnh, thêm một nét ngang sát đáy. Hắn không vẽ lại ký hiệu, chỉ đánh dấu chỗ đã nhìn.
“Ở chân cửa, không phải giữa cánh cửa?” người nhận báo hỏi.
“Dạ. Bên trái cửa hẹp, cạnh chỗ hạ cáng.”
“Ngươi nhìn lúc có đèn của ai?”
“Con nhớ đèn được đặt thấp. Còn lúc ấy là đèn nào thì con phải xem lại sổ; con không muốn nói nhầm.”
Hứa Đồng lật sổ công việc, tìm đúng trang. Bảo đọc những dòng mình viết rồi chỉ ra lần đổi đèn hắn chắc chắn; phần lúc nhìn dấu không ghi rõ chiếc nào. Hắn ngẩng lên, nói điều ấy. Người nhận báo thêm vào phiếu: có ánh đèn thấp, chưa xác định được nguồn đèn trong lượt quan sát.
Bảo thấy hơi ngượng. Hắn nhớ cả mùi bụi và bàn tay mình lúc đó, vậy mà một câu hỏi nhỏ lại không trả lời được. Hứa Đồng gấp sổ, đẩy chén nước tới.
“Uống đi.”
“Con tưởng nhớ được.”
“Ngươi vừa chỉ đúng chỗ trên bản đường. Phần khác chưa rõ thì để người tới xem tiếp.”
Người nhận báo hỏi thêm: “Lúc các ngươi rời cửa hẹp, có ai ở lại trực tại đó không?”
“Con không thấy ai ở lại. Nhưng lúc ấy con đang đi cùng nhóm, không nhìn hết phía sau.”
“Vậy ta ghi ngươi không thấy, không ghi là không có người.”
Bảo gật. Hắn nhìn tờ phiếu cũ rồi nhìn bảng bổ sung của Hứa Đồng. Trên phiếu cũ chỉ có một dòng tên cửa; người nhận báo phải ghi thêm vào mép. Ở bảng mới, dòng về người trực còn một khoảng trắng, vừa đủ viết câu hắn vừa nói.
“Có thể thêm chỗ cho hai cửa không?” Bảo hỏi. “Một chỗ có tượng, một chỗ có dấu. Người nhận lượt sau sẽ không phải lật mép giấy.”
Hứa Đồng xem tờ phiếu. Ông không lấy bút sửa ngay. Người nhận báo chỉ ra phiếu này còn dùng cho các đoạn đường khác, nếu thêm cả hai cửa cố định thì những chuyến không có cửa sẽ để trống. Ba người nhìn nhau một lúc.
“Có thể thêm dòng vị trí thứ hai,” người ấy đề nghị. “Khi cần thì ghi, không cần thì bỏ trống.”
“Còn người trực?” Bảo hỏi.
“Ghi trong phần bàn giao tuyến.”
“Nhưng nếu người đang cầm phiếu chưa biết ai trực?”
Người nhận báo đặt bút xuống. Hứa Đồng kéo bảng bổ sung lại gần, chỉ dòng còn chờ đối. “Ở đây ta ghi được người đã báo và điều chưa biết. Phiếu đường sẽ phải xem thêm với đội dùng nó. Ta không tự đổi giấy của họ hôm nay.”
Bảo nhìn hai tờ, chợt nghĩ tới chiếc bình ở lại trạm. Người nhận lượt sau cần biết cả thứ có mặt lẫn thứ còn ở nơi khác. Nhưng hắn không nói đó là cùng một việc; một chiếc bình có thể đếm, còn đoạn đường có người đi và những chỗ chưa ai nhìn hết.
Người nhận báo xin giữ bản phác cửa mà Bảo vừa vẽ. Hứa Đồng ghi nó là bản minh họa vị trí theo lời kể tại phòng, không phải bản vẽ đo tại chỗ. Bảo đọc lại, đồng ý, rồi nhận tờ sao nhỏ có số của bản phác để sau này hỏi cho đúng.
Trưa hôm đó, hắn ăn cơm với canh rau. Hắn mua thêm một cái bánh bằng một đồng, nhưng không ăn ngay. Lúc quay về kho, hắn hỏi người coi đã ghi ca buổi sáng chưa. Ông chỉ dòng tên hắn trên bảng và cho biết việc mang hai bình có dấu sang y vụ đã có người nhận.
“Chiếc ở lại trạm thì sao?”
“Không phải hai chiếc của y vụ. Ta đã ghi chỗ nó đang ở.”
Bảo xem dòng ấy, rồi ra khu nuôi. Hắn kiểm nước cho Ô Kê, đổ một lượt kê và đóng chốt. Con gà nhìn gói bánh trong tay hắn, bước theo dọc rào. Bảo bẻ một mẩu nhỏ, đặt vào máng rồi cất phần còn lại.
“Phần này là của ta.”
Ô Kê mổ xong, vẫn đứng chờ.
“Ngươi muốn ta ghi tên lên bánh à?”
Nó kêu một tiếng. Bảo nhìn mẩu bánh đã mất, thấy ghi tên lúc này cũng vô ích.
Chiều, hắn về phòng, lấy tờ việc cần nhớ ra. Dòng chờ đội phụ trách xem phần bổ sung được thêm một chữ: đã nhận. Hắn không gạch đi, vì việc xem dấu thật chưa xong. Bên cạnh, hắn đặt tờ sao nhỏ có số bản phác vừa được nhận.
Hai mảnh giấy nằm dưới chiếc chén rỗng.