Chương 422: Lời Trên Đường Về
Chiếc xe chở hai lá thư lại lên đường khi sương còn phủ đầu ngõ.
Lần này Hổ đi cùng một đoạn. Anh muốn xem thanh gỗ mới có chịu được sức nặng của hàng không. Người chở xe đặt các bao vải lên, buộc chắc, rồi nhờ anh nhìn mối nối khi bánh lăn qua chỗ gồ. Mối buộc không tuột; anh dừng xe kiểm tra, tự kéo lại đầu dây một lần nữa.
“Đến trạm ta sẽ xem thêm,” anh nói.
Hổ không đi xa hơn. Anh nhận lời mang tin về từ đường rằng xe đã qua đoạn đầu, còn đến trạm lúc nào thì chưa biết. Người chở hàng đặt tay lên túi có thư, cười: “Hai phong bì vẫn ở đây.”
Khi Hổ trở lại, Bảo đã thức. Hắn nghe xong, hỏi có cần sửa bản ghi hôm qua không. Ông Thuận thêm một dòng: xe đã xuất phát lại, Hổ thấy mối buộc giữ được ở đoạn đầu. Ông không gạch dòng xe từng phải quay về; điều đó vẫn là một phần của chuyến đi.
Buổi sáng, người nhà ông giữ danh sách đưa ông sang từ đường như đã hẹn. Ông mang chiếc áo nâu và tập giấy trong túi vải. Bảo kể về xe, rồi kéo ghế gần cửa sổ cho ông. Ông hỏi bức vẽ bến đò đã đi cùng thư chưa. Ông Thuận đáp người chở hàng đã nhận cả hai phong bì, nhưng chưa ai ở làng biết thư đã đến trạm.
“Vậy ta chờ,” ông nói.
Ông mở tập giấy, tìm trang có hai nhà cần hỏi lại. Một nhà từng theo người quen ra trạm; nhà kia ông biết đã chuyển, nhưng không nhớ hướng. Ông muốn hỏi bà bên cây mận xem có người nào biết thêm về nhà thứ hai không. Người nhà ông nhận đến hỏi sau khi bà về ruộng, còn ông ở từ đường nghỉ.
Bảo nghe xong, hỏi có thể ghi một dòng nhờ người mang ống đồng nếu ông quay lại không. Ông đồng ý, nhưng nhắc đừng gộp hai nhà thành một. Hắn viết hai câu riêng rồi đưa ông xem. Ông sửa tên một con ngõ, bảo mình đã viết nhầm từ lâu; người nhà cũng xác nhận lối cũ đi qua cây ổi chứ không qua cây mận.
Ngoài sân, Tín treo thêm dòng chỉ đường cho xe lớn như bà Mạnh dặn. Bảng mới nói người mang đồ cồng kềnh nên hỏi người ở từ đường để được chỉ lối vòng. Cô em nhà bác giữ dây xem xong, bảo nên thêm hình bánh xe vì có người không đọc chữ. Cô vẽ một vòng tròn; Bảo nhìn và hỏi đó là quả mận hay bánh xe. Cô vẽ thêm hai nan. Hắn im lặng.
Gần trưa, ba người đến từ đường lớn. Người đi trước mặc áo xanh, Bảo nhận ra anh từng đến cùng nhóm tông môn. Hai người đi sau khiêng một hòm gỗ nhỏ. Họ dừng ở cổng, đọc bảng, rồi hỏi Tín có thể đặt hòm dưới mái hiên không.
“Trong đó có gì?” Tín hỏi.
“Dụng cụ và giấy. Chúng tôi muốn nói chuyện trước, chưa mang tới giếng.”
Hổ đang ở phòng trực. Thanh Nghi ra tiếp khách, nhờ họ đặt hòm ở gian ngoài, không chắn cửa. Cô em nhà bác vẫn trông giếng; người chị đến đổi lượt để cô có thể nghe nếu muốn. Bà Mạnh được nhắn, nói sẽ đến sau khi ăn.
Người áo xanh kể tông môn đã nghe báo cáo cuộc gặp ở quán và muốn cử hai người ở ngoài làng một thời gian để theo dõi những vệt sáng. Họ xin gặp người làng để bàn nơi dựng lều, cách lấy nước và việc có thể làm. Anh nói rõ hôm nay không đại diện Thiên Mệnh Điện; tông của anh có người đã góp tiền cho cuộc gặp nhưng đề nghị này do tông đưa ra.
Bảo nhìn chiếc hòm. “Có phải ống có sợi rung hôm trước không?”
“Có một ống như thế. Còn giấy để ghi thời gian và hướng nhìn. Chúng tôi muốn đặt nó ở chỗ đất trống, không cần chạm giếng.”
Thanh Nghi hỏi chỗ đất nào. Người áo xanh chỉ khoảng đất ngoài cổng, phía gần lối vào nhà bác giữ dây. Người chị lập tức nói chỗ ấy thường dùng đặt xe khi đưa bác đi khám, nếu dựng lều sẽ khó quay xe. Anh nhìn lại, nhận ra khoảng đất hẹp hơn mình tưởng.
“Có nơi khác không?” anh hỏi.
“Có thể hỏi chủ quán nước ở đầu làng,” Tín đáp. “Nhưng chúng tôi không quyết thay họ.”
Người áo xanh gật, nói sẽ đến hỏi sau. Anh lấy ra một tờ giấy đề nghị: hai người dự định ở bốn ngày, tự lo lương khô, muốn mua nước và củi nếu có người bán. Họ muốn ghi ánh sáng từ đất trống, nếu thấy thay đổi gần giếng sẽ báo người trực, không tự thử dụng cụ tại đó. Sau bốn ngày họ có thể xin kéo dài, nhưng không tự coi là đã được đồng ý.
Cô em nhà bác đọc xong, hỏi nếu họ thấy người lạ đi vào rãnh thì làm gì. Anh đáp sẽ gọi người trực và nhắc người kia dừng. Cô bảo như vậy có ích, nhưng người trông giếng vẫn phải có người làng nhận lượt; tông môn không thể hứa thay khi chưa học việc. Anh đồng ý ghi rõ.
Bà Mạnh đến cùng Dư An. Bà nghe lại đề nghị, hỏi hai người định ở có mặt hôm nay không. Cả hai người khiêng hòm bước lên, tự giới thiệu. Một người là người từng nhìn thấy vệt sáng trên sườn núi, người kia chưa đến làng trước đây. Bà hỏi họ có biết đường lấy nước không. Họ chưa biết; Tín đưa bản vẽ lối vòng, nói cần hỏi chủ giếng riêng nếu muốn lấy nước ở đó.
Người nhìn thấy vệt sáng báo thêm: anh đã trở về xóm có người nói giếng đổi vị, nhưng chủ nhà vắng. Anh gặp một người hàng xóm; người ấy nghe nói nước khác trước, chưa tự dùng. Anh không coi việc ấy là đã kiểm tra. Bảo nhớ Liên, hỏi anh có gặp chị không. Anh lắc đầu, không biết chị đã đi làng Bảo.
“Chị ấy từng đến đây,” Bảo nói. “Chị muốn người ở xóm tự quyết điều gì được kể.”
Anh bảo sẽ hỏi khi có cơ hội gặp, không ghi tên xóm vào giấy công khai. Người áo xanh nhận ra họ không mang sẵn giá mua nước hay chỗ dựng lều, nên đề nghị đi hỏi chủ quán đầu làng trước khi tiếp tục bàn. Bà Mạnh đồng ý; việc họ ở hay không còn phụ thuộc nơi ấy và những người liên quan.
Bảo muốn theo nhưng chưa ngủ sau ca đêm. Thanh Nghi bảo hắn nghỉ, nàng có thể đi cùng người chị nhà bác để chỉ lối. Hắn định nói mình vẫn tỉnh, rồi ngáp giữa câu. Tín đưa hắn chiếc chăn, đẩy ghế sát tường. Ô Kê nhảy lên chỗ hắn vừa định ngồi, hắn phải bế nó xuống mới nằm được.
Khi hắn tỉnh, mặt trời đã nghiêng. Thanh Nghi kể chủ quán đồng ý cho hai người dựng lều ở khoảng đất sau quán trong bốn ngày, với điều kiện không chặn đường giao hàng và tự dọn. Người bán nước hôm qua cũng đã hỏi chủ quán; họ sắp bán phía trước, còn lều ở phía sau. Hai người của tông đồng ý trả tiền nước và củi theo giá thỏa thuận với chủ quán.
“Vậy họ được đến giếng bất cứ lúc nào?” Bảo hỏi.
“Không. Họ muốn quan sát từ chỗ đất sau quán và báo nếu thấy gì. Nếu muốn đo gần giếng, họ phải hỏi lại người trông và bà Mạnh.”
Bà Mạnh nói những người hiện trực giếng đều đã nghe đề nghị và đồng ý như vậy; bác giữ dây cũng được đọc bản chép và không phản đối việc họ ở sau quán. Bác muốn nhận tin nếu có quan sát liên quan giếng. Người áo xanh viết điều đó vào bản thỏa thuận, để hai người ở lại và người làng cùng giữ một bản.
Hắn hỏi họ có thể xem chiếc ống đo ở quán không. Người nhìn thấy ánh sáng nói được, nhưng khi ấy ống đặt ngoài sân sẽ phản ứng với gió; họ sẽ ghi cả thời tiết và nơi đặt. Bảo nhận lời ghé khi hết lượt trực, chưa hứa mang kết quả về như một kết luận về cửa.
Người áo xanh chuẩn bị về tông, còn hai người ở lại dựng lều. Anh đưa cho bà Mạnh một lá thư ngắn: tông môn muốn được nhận tin nếu làng cần người biết việc đến hỗ trợ, không yêu cầu trả lời ngay. Anh hỏi câu hỏi của bác giữ dây về quyền quyết định đã được gửi cho điện chưa. Bảo nói người chở hàng đã nhận thư, nhưng xe phải sửa; sáng nay xe đi lại, họ chưa biết đã đến trạm.
“Ta không thể trả lời thay điện,” anh nói. “Ở tông ta, việc phân lượt do người phụ trách và những người trực bàn; ta sẽ hỏi thêm về cách người sống gần tham gia.”
Cô em hỏi nếu người sống gần không đồng ý với người phụ trách thì sao. Anh đáp từng có việc phải đổi vị trí canh sau khi dân nhắc lối đi bị chắn, nhưng anh chưa biết quy định cho mọi nơi. Cô nhờ anh ghi ví dụ ấy cùng giới hạn lời kể. Anh viết và đọc lại.
Sau khi khách về quán, người chị nhà bác giữ dây đem bản thỏa thuận đến nhà cửa xanh. Bác nghe xong, hỏi hai người ở lại có biết lối qua ván không. Cô nói họ đã đọc bảng nhưng chưa cần qua; nếu sang sẽ hỏi người trực. Bác bảo sáng mai nếu khỏe muốn nghe họ tự kể việc đặt ống ở đâu.
Bữa tối, ông giữ danh sách nghe tin có hai người ở sau quán, hỏi họ có qua bến đò không. Bảo bảo chưa hỏi. Ông không muốn làm phiền ngay khi họ đang dựng lều, nhưng nhờ hắn nếu gặp thì hỏi đường họ đã đi. Bản vẽ bến đò vẫn đang theo người chở hàng; một câu hỏi khác có thể đi từ phía quán.
Thanh Nghi nhận ca. Bảo mang nửa bát cháo cho Ô Kê nhưng nó chỉ mổ mấy hạt rồi chạy đến cửa, nhìn về hướng quán. Hắn đi theo một đoạn, gọi nó lại. Con gà quay đầu, lần này về vì Hổ cầm đĩa thóc.
Trên đường trở vào, Bảo thấy hai ánh đèn mới dưới mái quán đầu làng. Người ngoài đã ở lại, không phải chỉ ghé uống nước rồi đi. Hắn nhìn bảng chỉ lối bên giếng, thấy mũi tên khô và còn rõ. Hắn không biết bốn ngày ấy họ sẽ nhìn thấy gì; sáng mai, những người ở làng và khách đều có việc để làm và có người để hỏi khi điều gì thay đổi.