Chương 320: Giếng Ngoài Lối Vào
Từ cột đá, con đường men sườn đi qua một bãi đất nhỏ rồi thu hẹp giữa hai bụi cây.
Lâm Hổ dắt Xám tới bãi, dừng cho con la uống nước. Tạ Tiểu Bảo mở sổ, đối hướng đi với nét Trực đã vẽ. Hai bụi cây không được ghi trên tờ của anh, nhưng phía sau chúng có dòng nước nghe rõ hơn. Bảo ghi điều mình thấy, rồi chừa một khoảng cho đoạn chưa tới.
“Chỗ này đủ cho Xám quay đầu,” Hổ nói. “Nếu phía trước không đi được, ta trở lại đây trước.”
Thanh Nghi nhìn tải trên lưng la. Nồi vẫn nằm trong sọt giữa, lồng Ô Kê được buộc cao hơn túi lương. Dư An hỏi Bảo có đau chân sau đoạn dốc không; hắn đáp chỉ mỏi, ngồi nghỉ một lúc là đỡ. Ông bảo nếu mỏi tăng, hắn phải nói trước khi tới chỗ hẹp.
Họ ăn phần bánh cuối của bữa sáng. Bảo bẻ một miếng nhỏ để riêng cho Ô Kê. Con gà đưa mỏ qua nan, nhặt bánh rồi thả xuống bát thóc. Hắn tưởng nó không ăn, nhưng một lát sau nó lại mổ từng mẩu đã dính thóc.
“Ngươi biết để dành à?”
Hổ nhìn vào lồng. “Hay nó làm rơi?”
Bảo nghĩ một chút. “Chưa biết.”
Qua bãi, lối men sườn có đoạn hẹp như Trực đã kể. Hổ tháo lồng gà và túi lương ở chỗ bằng, để sọt nồi buộc giữa lưng Xám. Thanh Nghi mang lồng, Bảo nhận túi nhẹ, Dư An đi sau quan sát dây buộc. Con la bước sát phía trong, mỗi lần quai sọt gần cành, Hổ dừng cho Thanh Nghi giữ cành lên.
Một chỗ nền đất bị nước rửa, đá nhỏ lộ ra. Bảo thử bằng gậy trước khi đặt chân, thấy đá không lăn, nhưng một mảng lá ướt phủ phía ngoài. Hắn chỉ cho Hổ phần nền mình vừa bước. Xám theo qua, móng sau chạm lá làm lá trượt; nó giật nhẹ, rồi đứng yên. Hổ không kéo vội, chờ nó đặt lại chân trên nền cứng.
Đi hết đoạn hẹp, họ đặt lồng và túi xuống, cho Xám nghỉ. Hổ kiểm hai quai sọt nồi. Một đầu dây hơi xoay, anh điều chỉnh để quai không cọ vào tay cầm. Bảo hỏi có nên tháo nồi ra xem không. Anh nhìn lớp vải còn nguyên và nói có thể kiểm kỹ hơn lúc tới chỗ nghỉ bằng phẳng; ở đây đường vẫn hẹp, chưa tiện bày đồ.
Bảo đồng ý, dù mắt vẫn nhìn chiếc sọt thêm một lúc. Hắn buộc lại lồng Ô Kê, đặt bát vào túi. Con gà kêu một tiếng, như muốn nhắc bát chưa có thức ăn. Hắn cho nó mấy hạt thóc An tặng, còn giữ lại phần sau.
Sau khúc ngoặt, đường thấp dần. Tiếng nước không còn ở bên dưới vách mà vọng từ phía trước. Trực từng nói gần giếng có một phiến đá phẳng. Bảo nhìn qua từng bụi cây, nhưng trước mặt chỉ có những tảng đá lẫn rễ. Hắn không thấy phiến nào giống lời kể.
“Có thể còn xa,” Dư An nói.
“Hoặc chúng ta đã đi qua.” Bảo quay đầu nhìn lại.
Thanh Nghi chỉ mặt đường: từ đoạn hẹp đến đây chỉ có một vệt đi rõ, chưa thấy lối rẽ. Họ vẫn có thể đã bỏ qua một chỗ khuất, nhưng chưa có lý do quay ngay. Nàng đề nghị đi thêm tới nơi có thể nhìn dòng nước, rồi đối lại với bản chép và lời Trực.
Hắn lấy tờ lão Kỷ ra. Nét cong cạnh dấu nước hướng vào giữa hai dấu núi; tờ giấy không ghi khoảng cách. Trên bản nhiều địa danh hơn, tên ở vùng ấy quá mờ để đọc trong bản chép. Hắn đặt cả hai vào bìa, không vừa đi vừa nhìn giấy.
Đến một khoảng đất có bóng cây, họ thấy giếng.
Nó ở ngoài đường chính một chút, thành xây bằng đá thấp, cạnh đó là một phiến phẳng đủ đặt xô. Một đoạn dây buộc trên cọc gỗ, đầu kia nối với gàu. Nắp giếng được đặt lệch, để một khoảng tối bên dưới. Bảo bước tới hai bước, rồi chậm lại.
Hắn từng gánh nước từ giếng làng, từng chạy vòng qua đó để tránh cán bột của bà Mạnh. Nhưng chiếc giếng trước mặt nằm ngoài lối vào, bên cạnh phiến đá Trực kể, không phải giếng giữa làng. Hắn chưa thể nhìn thấy cây đa hay những mái nhà thấp từ đây.
“Có phải chỗ Trực nói không?” Hổ hỏi.
“Giống lời anh ấy.” Bảo nhìn phiến đá. “Cháu không nhớ giếng này rõ như giếng trong làng.”
Dư An để Xám đứng dưới bóng cây. Thanh Nghi xem quanh giếng, không thấy ai. Trên phiến đá có vệt ướt đã khô một nửa, cạnh đó là một chiếc gáo úp. Nàng hỏi có thể dùng nước không; không ai ở đây để hỏi, nhưng gàu và gáo được đặt sẵn. Hổ kiểm dây trước khi múc, kéo lên một gàu nước rồi để mọi người xem.
Nước trong, có vài mảnh lá nhỏ. Dư An nói nhóm còn nước đã đun trong bình; họ dùng nước bình để uống trước, còn nước giếng có thể cho Xám sau khi xem đáy máng. Hổ đổ vào bát sạch, con la cúi uống. Bảo nhớ lời An dặn, chờ Xám xong rồi rót cho Ô Kê một ít trong bát riêng.
“Cháu không uống hết,” hắn nói với con gà, như thể An vẫn đứng cạnh.
Ô Kê mổ vào mặt nước. Hắn giữ mép bát, đến khi nó thôi mới đặt xuống phiến đá. Hổ trả gàu, che lại nắp giếng và đặt gáo như lúc họ tới.
Bảo nhìn quanh. Từ giếng có một lối tiếp tục đi vào giữa hai sườn núi, nhưng cây cối che tầm nhìn. Một vệt khác đi vòng xuống thấp. Hắn lấy hình Trực đã vẽ, thấy anh chỉ tới giếng rồi dùng nét ngắn cho lối phía trong, không ghi điểm rẽ tiếp theo.
“Trực có vào từ đây không?” hắn hỏi.
“Anh ấy nói chỉ tới giếng giao muối, không vào tận làng,” Thanh Nghi nhắc.
Hắn nhìn bóng cây trên đường. Hắn muốn đi ngay, nhưng chiếc nồi và Xám đang ở đây, còn mặt trời đã ngả. Họ bàn hỏi người quanh giếng trước. Không thấy nhà nào sát đó, Hổ và Bảo đi một đoạn ngắn lên nền cao, vẫn trong tầm gọi của Thanh Nghi và Dư An.
Từ nền cao, Bảo thấy một mái che nhỏ bên lối đi vào. Bên dưới mái có một chiếc ghế trống và một cái giỏ úp. Không có người. Xa hơn, rặng cây che phần đường còn lại. Hắn không nhìn thấy làng, nhưng ngực bỗng thắt lại: nơi này đủ gần để mỗi vật bình thường cũng khiến hắn tự hỏi liệu có người quen vừa rời khỏi đó.
Hai người quay về giếng. Họ kể đã thấy mái che và đồ đặt dưới đó, không biết thuộc về ai. Thanh Nghi đề nghị cả nhóm đưa đồ tới mái, xem có người trở lại không. Hổ nhấc lại tải, kiểm dây nồi. Dư An hỏi Bảo chân thế nào; hắn nói mỏi nhưng đi thêm một đoạn ngắn được. Ông bảo hắn không mang nặng và dừng nếu đau.
Mái che được dựng bằng cọc gỗ, một bên tựa vào bờ đất. Chiếc ghế không mới, mặt ghế có vết nước. Trên giỏ úp là một mảnh vải sạch đã khô. Bảo không tự nhấc giỏ; hắn gọi lớn một tiếng. Không ai đáp. Hổ gọi thêm, rồi cả nhóm chờ dưới gốc cây gần đó.
Một lúc sau, một người đàn ông từ lối xuống nước đi lên, tay cầm bó củi. Thấy khách và con la, ông hỏi họ cần gì. Thanh Nghi nói họ vừa tới giếng, muốn hỏi đường vào Lạc Kê và xin phép nghỉ nhờ dưới mái. Ông đặt củi xuống, đáp mái che dùng chung cho người chờ chuyến hàng; họ có thể nghỉ, nhưng chiếc giỏ là của người khác, đừng lấy.
Bảo hỏi ông có biết bà Mạnh không. Người đàn ông nói biết tên, nhưng lần cuối ông vào làng đã lâu; gần đây ông nhận đồ ở giếng rồi quay ra. Ông không biết bà có nhận được thư nào hay không. Bảo kể tên những người đã giúp chuyển tin; ông chỉ nhận ra tên một người, còn những chặng sau ông chưa nghe kể.
“Cháu có thể đi theo lối này vào không?” hắn hỏi.
“Lối đó dẫn về phía thung lũng. Ta có thể chỉ tới chỗ đường chia sau rặng cây. Từ đó cậu nói mình ở làng thì có thể nhận ra; nếu không, đừng đi sâu lúc trời tối.”
Ông cho biết mình sẽ đi một đoạn để xem bẫy cá sáng mai, có thể chỉ đường lúc ấy. Hôm nay ông cần mang củi về. Hổ hỏi họ có thể ngủ dưới mái không. Ông đáp được nếu không chắn lối và tự giữ đồ; nhà ông ở phía ngoài, có thể bán thêm nước đun nếu họ cần. Thanh Nghi bàn giá rồi nhận, không nhờ ông giữ nồi qua đêm.
Bảo nhìn về phía rặng cây. Còn một đoạn nữa, có thể sau đó hắn sẽ thấy thứ quen thuộc. Hắn định xin đi cùng ông ngay, nhưng Dư An nhắc trời đã xuống và cả nhóm vừa qua đường hẹp với tải. Hắn nhìn ba người bạn, nhìn Xám và lồng Ô Kê, rồi đồng ý nghỉ.
Họ đặt nồi sát bờ đất, để cửa mái thông. Hổ trải vải dầu dưới sọt, Thanh Nghi kiểm chiếc lệnh cùng giấy, Dư An xoa chỗ chân Bảo vừa đi dốc. Ô Kê được thả ra một lúc; nó đi quanh chiếc giỏ úp, không chui vào được, bèn quay sang nhặt hạt thóc Bảo rắc.
Bữa tối chỉ có bánh, ít rau và nước nóng mua từ người đàn ông. Bảo ăn chậm, nghĩ đến canh nấm hôm trước và bếp nhà bà Mạnh. Hắn chưa biết quầy bánh có mở không, cũng không biết ai sẽ ra cửa khi mình gọi. Hắn chỉ nhớ lời bà đã nói trước lúc hắn rời làng: nhà vẫn ở đó.
Trước khi ngủ, hắn mở sổ. Từ cột đá đến giếng đã có nét liền; từ giếng đến mái che cũng vậy. Phía sau rặng cây, hắn để khoảng trắng và ghi: “Sáng mai hỏi đường chia.” Hắn đặt miếng bìa chặn trang, rồi buộc lồng Ô Kê gần chỗ mình nằm.
Ngoài mái, nước ở giếng nhỏ từng giọt từ gàu xuống phiến đá. Bảo nghe được vài tiếng, sau đó tiếng gió lấp đi. Hắn nằm nhìn khoảng tối dưới rặng cây, lần đầu tiên sau nhiều ngày không còn phải tưởng tượng giếng nằm ở hướng nào. Nó ở phía sau lưng hắn; đường về làng ở phía trước.