Chương 282: Chiếc Hòm Không Mở
Người giữ sổ về khi bóng cây đã chạm chân bàn ghi hàng.
Ông đặt chiếc túi vải xuống ghế, phủi bụi trên tay rồi đọc mảnh giấy người phụ trách đưa. Tạ Tiểu Bảo nhận ra câu hỏi của mình qua nét gạch ở chữ “bến Tây”. Người ghi đã chép lại bản sạch, nhưng vẫn giữ bản có sửa ở phía dưới.
“Các vị tìm Thái Huyền Lệnh số mười bảy?” người giữ sổ hỏi.
Thanh Nghi đáp phải, và nói rõ chiếc lệnh bị lấy trong một vụ tấn công tại kho giấy gần bến Tây. Nàng không nói người ở trạm này đã lấy nó. Ông nghe hết, hỏi chiếc lệnh có đặc điểm gì ngoài số.
Bảo mở miệng rồi dừng. Hắn nhớ chiếc bao đen bị kéo khỏi hông nàng, nhớ gã áo xám trên mái sau khi khói tan. Hắn không nhìn thấy chiếc lệnh lúc bị lấy; người thấy rõ nó hơn là Thanh Nghi.
Nàng mô tả những chi tiết mình nhớ, rồi nói chiếc lệnh đã nằm trong bao khi mất. Người giữ sổ ghi cả hai: đặc điểm của lệnh và đặc điểm của bao, không coi chúng là một vật. Ông hỏi họ có giấy nhận lệnh hay giấy ghi sự việc không.
“Hiện tại chúng ta không có bản gốc ở đây,” nàng nói. “Có thể tìm bản đối chiếu sau. Trước hết, ta muốn biết trạm có mục nào giống không.”
“Ta sẽ xem những mục đã bàn giao vào kho. Các vị chờ ngoài này; ta không mang cả sổ ra vì còn tên người gửi khác.”
Bảo muốn đi theo. Ông chỉ chiếc cửa kho đang được kê xà mới, nói bên trong có hàng của nhiều người và đang sửa mái. Bảo hỏi liệu họ có thể đứng ở cửa, xem phần liên quan khi ông tìm được không. Ông đáp nếu có mục khớp, ông sẽ mang bản trích ra để cùng đối.
Hắn đồng ý. Thanh Nghi giữ bản câu hỏi, còn hắn giữ tờ người phụ trách đã ký nhận. Họ trở lại mái che với Hổ và Dư An. Xám đã uống nước, Ô Kê đang mổ mấy hạt thóc trong lồng.
“Ông ấy nói có lệnh không?” Hổ hỏi.
“Chưa. Ông ấy đi tìm mục ghi trước.”
Bảo lấy bánh khô ra chia. Hắn vừa ăn vừa nhìn cửa kho. Hai người sửa mái đã đặt xà lên giá, đang thay tấm ván mục. Một người leo xuống, hỏi Hổ có thể dịch Xám ra xa hơn không vì họ cần chuyển thêm gỗ. Hổ dẫn la tới máng bên kia; Dư An mang lồng gà theo, tránh để bụi rơi vào nước của Ô Kê.
Thanh Nghi ngồi cạnh Bảo. “Nếu có mục giống, ngươi định làm gì?”
“Xin xem.”
“Rồi nếu đúng vật?”
“Xin họ trả.” Hắn dừng lại. “Nhưng trước hết phải biết họ giữ theo giấy nào.”
Nàng gật đầu. “Và ta cũng phải chứng minh vì sao chiếc lệnh ấy được giao cho ta giữ.”
Bảo nhớ chiếc bao bị giật, nhớ Thanh Nghi đã chọn không đuổi theo giữa làn khói. Hắn từng muốn chạy ngay sau bóng người trên mái. Đến hôm nay, trước một chiếc kho khác, hắn lại phải đợi người giữ sổ đọc tên vật. Hắn không thích đợi; nhưng nếu xông vào, hắn chưa biết phải tìm trong hòm nào, cũng không biết những vật khác thuộc về ai.
Người giữ sổ trở lại với hai tờ giấy và một thanh gỗ nhỏ dùng chặn mép. Trên tờ đầu, ông đã che các dòng khác, chỉ để một mục ghi vật giống lệnh bằng kim loại, có số mười bảy và được đặt trong một bao đen. Ngày nhận và nơi chuyển đến được ghi ở cột bên cạnh.
Bảo thấy cổ họng khô đi. Hắn nhìn Thanh Nghi; nàng cúi đọc rất lâu, rồi hỏi:
“Chỗ này ghi từ bến Tây?”
“Ghi từ một kho hàng ở phía bến. Ta chỉ có tên kho và số kiện, không có lời giải thích nó đến kho ấy bằng cách nào.” Ông chỉ cột sau. “Vật hiện ở trong một hòm niêm, được chuyển tới đây để đối chiếu trước khi giao tiếp.”
“Đã giao tiếp chưa?” Bảo hỏi.
“Chưa có dấu xuất trong sổ của ta. Nhưng hôm nay ta chưa kiểm lại hòm sau khi về. Sổ nói hòm còn ở đây, ta phải xem thực tế trước khi trả lời chắc.”
Thanh Nghi đọc lại đặc điểm trên bản trích. Những điều nhìn thấy trên lệnh tương ứng với điều nàng nhớ, nhưng bao đen và số mười bảy vẫn chưa đủ để kết luận chỉ có một vật như vậy. Nàng hỏi có thể xem hòm hay chiếc lệnh không.
“Ta phải cùng người phụ trách kiểm dấu niêm và xem giấy gửi cho phép mở thế nào.” Người giữ sổ nói. “Ta không mở hòm một mình trước mặt các vị ngay được.”
Bảo định hỏi ông phải chờ bao lâu. Hắn nhìn tờ đơn nghỉ trong túi rồi hỏi thẳng:
“Nếu chiều nay không mở được, chúng cháu có thể biết khi nào có câu trả lời không? Chúng cháu đang trên đường về làng.”
“Ta có thể kiểm hòm và giấy gửi trong chiều. Nếu cần hỏi người gửi, ta sẽ nói rõ, không giữ các vị chờ mà không hẹn.”
Người phụ trách buổi sáng vừa giao việc cho người khác, nghe xong đồng ý cùng kiểm. Trước khi đi, ông cho Bảo xem số hòm và dấu niêm được ghi trên bản trích. Ông không đưa tên người gửi cho hắn, chỉ nói sẽ hỏi ý kiến người liên quan nếu cần. Thanh Nghi nhắc ông ghi rằng có hai người yêu cầu đối chiếc lệnh và một trong hai từng giữ nó khi bị lấy.
Hai người vào kho. Bảo và Thanh Nghi ngồi ở cửa quán cạnh trạm, vẫn nhìn được lối từ kho ra. Hổ mang Xám tới chỗ có bóng râm, còn Dư An hỏi chủ quán một bình nước nóng. Bà chủ nói gần bến có người chuyển thư chiều mai; bà không biết tuyến có đi qua ngoại viện không.
Bảo đã gửi một lá ở bàn trạm, nên không viết thêm ngay. Hắn lấy tờ nhận ra, đối với ngày mình đang chờ. Nếu phải ở thêm, hắn muốn báo sớm, nhưng không muốn gửi một tin chỉ nói họ đang chờ một cuộc kiểm chưa có kết quả.
Một cậu bé ở quán đưa ra bốn bát canh. Chủ quán nói canh được tính trong bữa cơm họ đã đặt. Bảo uống một ngụm, thấy trong đó có đậu và ít rau. Hổ hỏi còn cơm không; cậu bé chạy vào, mang ra một nồi nhỏ. Bốn người ăn, để phần canh cuối trong nồi cho ai muốn thêm.
Ăn gần xong, người giữ sổ xuất hiện ở cửa kho cùng người phụ trách. Ông không mang theo chiếc hòm. Bảo đứng dậy nhanh đến mức suýt đẩy đổ bát; Hổ giữ mép bàn, còn Thanh Nghi đặt đũa xuống.
“Hòm còn ở đây,” người giữ sổ nói. “Dấu niêm khớp với dòng ghi. Nhưng giấy gửi yêu cầu có người nhận được chỉ định hoặc giấy chứng minh liên quan mới được mở để đối vật.”
Bảo hỏi người nhận được chỉ định là ai. Ông đáp tên người ấy nằm trong giấy gửi, ông sẽ liên hệ theo địa chỉ đã ghi, không đưa tên của người khác cho khách ngay. Nếu Thanh Nghi có giấy chứng minh từng được giao lệnh hoặc giấy báo mất, trạm có thể đối phần liên quan và chuyển yêu cầu tới người có quyền mở.
“Ta không mang bản ấy,” nàng nói. “Ta có thể viết lại việc mình giữ lệnh và bị lấy, nhưng lời viết mới không thay giấy cũ.”
“Được. Ta ghi lời trình bày, rồi báo cách đối tiếp.”
Bảo nhìn cánh cửa kho. Chiếc hòm chỉ cách hắn một khoảng sân. Trong hòm có thể là vật họ tìm, hoặc một vật khác được ghi giống. Hắn muốn hỏi ông có thể chỉ mở ra cho mình nhìn một cái không; rồi hắn nhớ chính mình đã không muốn người ở bàn bắt mở gói nồi chỉ vì họ muốn biết bên trong.
“Cháu có thể ghi số hòm không?” hắn hỏi.
“Được. Số này giúp hỏi đúng mục, không cho phép người khác nhận hòm thay.” Ông đọc số, đợi Bảo viết xong mới kiểm lại.
Thanh Nghi viết lời trình bày ngắn, ghi mình từng giữ Thái Huyền Lệnh số mười bảy trong bao đen và nó bị lấy tại kho giấy gần bến Tây. Nàng không ký rằng vật trong hòm chắc chắn là lệnh ấy. Bảo ký dưới lời của mình về việc đã thấy chiếc bao bị lấy. Người phụ trách nhận giấy, ghi ngày và trả cho họ một bản.
Hổ hỏi nếu nhóm tiếp tục đi thì trạm có thể gửi lời về đâu. Bảo đưa địa chỉ bàn cửa ngoại viện; Thanh Nghi thêm địa chỉ có thể nhận tin của nàng. Người giữ sổ nói sẽ gửi tới một trong hai nơi sau khi đối giấy, nhưng chưa biết cần bao lâu. Họ hỏi có thể báo qua trạm trên đường về thung lũng không; ông nói có thể gửi bản tin đến trạm núi, còn từ đó cần hỏi chuyến tiếp.
Chiều xuống. Họ đã hẹn chỉ chờ đến lúc người giữ sổ về; bây giờ đã biết hòm còn ở kho và điều cần làm tiếp. Bảo muốn nán lại, nhưng ở lại cũng không khiến giấy cũ xuất hiện trong túi. Hắn hỏi Thanh Nghi có muốn quay về lấy giấy không.
Nàng nhìn hướng dốc rồi nói: “Ta muốn tìm lại lệnh. Ta cũng đã nhận lời đi cùng ngươi. Tối nay hỏi xem có cách nhờ người ở ngoại viện tìm giấy và gửi bản chép được không; sáng mai chúng ta quyết định tiếp.”
Bảo không phải chọn thay nàng. Hắn gật đầu, cất bản nhận vào túi. Người phụ trách chỉ quán cạnh trạm còn phòng; cả nhóm tới hỏi giá, rồi tháo tải cho Xám.
Tối, Thanh Nghi viết thư nhờ người quen kiểm những giấy liên quan tới lệnh. Nàng ghi địa chỉ nhận tin và hỏi trước khi nhờ gửi bản nào. Bảo đưa nàng tờ giấy sạch cuối cùng trong tập nhỏ; nàng gấp thư, đặt cạnh tờ nhận số hòm.
Ngoài sân, tiếng búa sửa mái đã ngừng. Ô Kê kêu trong lồng khi Hổ đặt bát nước xuống. Bảo nhìn mảnh giấy có số hòm, rồi nhét nó vào lớp vải khô cùng tờ hỏi ban sáng.