Chương 305: Phía Ngoài Tảng Đá
Người ông Thạch nhờ tới trạm vào sáng hôm sau, mang theo một cái cuốc cán ngắn và một cuộn dây cũ.
Ông tên Tấn, từng giúp dân xóm sửa đoạn đường đất sau lối mỏ. Nghe chuyện tảng đá chắn và thân cây đổ, ông không nhận làm ngay. Ông hỏi nhóm muốn đưa thứ gì qua, có bao nhiêu người, rồi xin xem con la.
Xám đứng dưới mái, đang nhai cỏ. Tạ Tiểu Bảo dẫn ông tới, kể cả chiếc nồi đen, lồng Ô Kê và các túi lương. Ông Tấn nhìn phần tải Hổ buộc thử trên lưng la, bảo tháo xuống để xem những chỗ nhô ra. Hắn thấy công việc chưa bắt đầu đã phải dỡ đồ, nhưng vẫn giúp Hổ đặt từng túi lên phản.
“Nồi nặng không?” ông hỏi.
“Có nặng.” Bảo giữ lớp vải quanh nồi. “Cháu không muốn để nó lăn.”
“Vậy dù la qua được, tới chỗ khó vẫn phải chuyển nồi riêng.” Ông nhìn cái lồng. “Gà cũng vậy.”
Ô Kê thò mỏ qua nan. Bảo đặt một hạt thóc trước mặt nó; con gà mổ trúng ngón tay hắn trước, sau đó mới ăn hạt thóc.
Hổ trải hai sợi dây đã đo hôm qua: một sợi theo chiều ngang Xám, một sợi theo khoảng hẹp sát nền ở khe đá. Ông Tấn đặt chúng cạnh nhau, nói phần trong hiện không đủ rộng. Ông không lấy đó làm lý do phá tảng đá; ông muốn tận mắt xem cả nền dưới chân và vệt đường phía ngoài.
Sau khi bàn, ông đồng ý đi xem trong nửa ngày. Tiền công cho buổi khảo sát được chốt trước; việc dọn đường nếu có sẽ bàn sau khi biết cần bao nhiêu người và dụng cụ. Ông Thạch cũng tới cùng, không lấy thêm tiền dẫn cho quãng quen thuộc vì hôm nay ông muốn hỏi đường cho những chuyến gánh hàng của mình. Nhóm vẫn mang nước và lương cho cả hai.
Đến rãnh nước đầu lối mỏ, Bảo tìm cái que Mai giúp hắn cắm. Nó vẫn ở sát mép, không chắn dòng. Mực nước dưới vạch cũ một chút, nhưng đất quanh chân que đã mềm và que nghiêng. Hắn dựng lại, ghi rằng lần so hôm nay không chắc bằng lúc que còn nguyên. Ông Tấn xem dòng chảy, khuyên họ đừng lấy một buổi trời ráo làm bằng chứng nước sẽ tiếp tục xuống.
“Ông có hay đo nước không?” Bảo hỏi.
“Ta nhìn nó qua những lần đi làm. Nếu phải so, ta tìm hai dấu cố định. Que cắm trong bùn dễ đổi chỗ.” Ông chỉ hai hòn đá lộ trên mặt nước. “Nhưng chỉ một trận nước lớn cũng có thể đẩy đá đi. Thấy dấu đổi thì phải kiểm lại.”
Bảo chép cả hai ý. Hắn muốn tìm thứ không bao giờ đổi, nhưng nhìn đầu que nghiêng, hắn biết ngay cái dấu mình đặt hôm qua đã thay đổi.
Tới tảng đá, ông Tấn không bước vào khe. Ông đi quanh phía có thể đứng, xem mặt đá, phần đất dưới chân và những viên nhỏ kẹt bên trong. Hổ chỉ nơi tảng đá tựa gần vách. Ông Tấn nhìn một lúc rồi nói không nên tự bẩy hay lấy những viên chèn khi chưa biết tảng lớn nằm thế nào. Muốn dời nó phải có người, dụng cụ và đường để đá đi; đẩy đại có thể lấp hẳn lối người đang dùng.
Bảo hỏi có thể khoét bớt phần nhô của viên đá nhỏ không. Ông Tấn bảo phải xem nó có chịu lực hay không; chỗ ấy lại chật, người cầm cuốc đứng sai có thể bị kẹt. Ông chưa đủ căn cứ bảo làm được.
“Vậy đi ngoài?” Bảo chỉ vệt đất qua bụi cây.
“Ta xem.”
Ông đi lên chỗ nền cao Mai từng đứng, tìm được khoảng nhìn xuống cả hai phía. Vệt đất vòng bên ngoài tảng đá rồi khuất sau một bụi gai. Một đoạn đã bị nước khoét thành rãnh, mép ngoài dốc về phía khe. Ông Thạch nói chưa từng gánh theo lối ấy. Ông Tấn cũng không nhận ra đây có phải đường cũ hay chỉ là vệt nước chảy.
Họ đi vòng từ phía trên đến một chỗ khác, cách xa tảng đá. Từ đó nhìn thấy sau bụi gai có một dải đất nối về phía thân cây đổ. Hổ đặt sợi dây đo chiều ngang Xám trên nền đất rộng, ước lượng so với đoạn nhìn thấy. Chỗ gần bụi có vẻ đủ rộng; chỗ bị khoét thì không thể đo từ đây.
Ông Tấn hỏi có ai biết cây bụi ấy thuộc vườn hay được người trong xóm dùng làm hàng rào không. Ông Thạch nói không biết. Ông Tấn quyết định chỉ vạch một cành nhỏ để nhìn, chưa chặt cả bụi. Mai không đi hôm nay, nhưng con dao của ông đủ cắt một dây leo đã khô, không động vào thân cây lớn.
Sau dây leo là một bậc đất hẹp, có dấu móng nhỏ và một viên đá đặt ngang. Ông Thạch nhận ra có thể là lối dê đi; ông từng thấy người trong xóm chăn dê phía sườn này. Bảo hỏi dê đi được thì la có đi được không.
“Dê nhẹ, bám tốt, tải cũng khác.” Ông Tấn dùng cán cuốc chỉ xuống rãnh. “Điều ta cần biết là bờ này có thể mở rộng mà không làm đất tiếp tục trôi không.”
Ông thử đất bằng đầu gậy ở chỗ đứng vững, thấy lớp trên mềm, dưới có đá vụn. Ông nói cần người địa phương quen làm đường xem thêm phía thoát nước và mép nền; nếu làm, phải dẫn nước ra khỏi vệt đi trước, không đắp đất lên rãnh đang chảy. Ông không cam kết một ngày là xong.
Bảo nhìn đoạn chỉ bằng mấy bước chân. Từ trạm tới đây họ đi chưa quá lâu, còn trước mắt chỉ thiếu một dải rộng đủ cho Xám. Hắn hỏi cần bao nhiêu đất để bù vào rãnh.
“Ta chưa tính. Đắp đất mà không biết nước đi đâu thì mưa sau lại cuốn.” Ông Tấn cúi xuống, chỉ hướng rãnh. “Cậu thấy nó bắt đầu ở đâu không?”
Bảo nhìn lên sườn. Một vệt ướt chạy từ dưới gốc cây, qua chỗ lá mục rồi đổ vào rãnh. Hắn và Thanh Nghi theo vệt ấy bằng mắt. Hổ tìm được một khe nhỏ dẫn nước xuống từ trên cao. Nếu muốn làm lối, họ phải giữ nước đi khỏi chỗ bước, không chặn nước lại rồi bắt nó chảy qua nơi khác một cách tùy tiện.
Dư An đề nghị đo độ dốc của đoạn ngoài. Họ dùng gậy ngang và dây treo vật nặng như hôm trước, chọn hai điểm nền còn chắc cách rãnh một khoảng. Bảo đếm số lần đặt gậy, Thanh Nghi ghi độ chênh gần đúng. Đoạn ở ngoài dốc hơn lối sát vách. Hắn tính lại, lần này không cộng nhầm, nhưng Hổ nhắc phần khó nhất vẫn là mặt nền bị khoét, không phải chỉ độ dốc trung bình.
Bảo hỏi ông Tấn có thể đưa la không tải đến đầu vệt để thử không. Ông đáp chưa nên: chưa có chỗ quay đầu rõ ràng, và một cú bước vào mép mềm có thể làm đất trượt thêm. Ông đồng ý xem một đoạn phía sau từ hướng lối người đi, để biết dải ngoài có thật sự nối vào khoảng bằng hay không.
Họ chia nhau. Dư An ở lại phía gần cùng lồng Ô Kê và đồ đạc; ông Thạch, Hổ, Thanh Nghi, Bảo và ông Tấn lách qua khe trong như trước. Dư An hẹn nếu trời sẫm hoặc nghe tiếng nước tăng sẽ gọi. Qua thân cây, ông Tấn quan sát nhánh đang chống xuống sườn. Ông không cắt, nói muốn thấy toàn bộ gốc và chỗ tựa trước khi quyết; nếu dọn lối ngoài mà vẫn vướng cây, họ cần tính cả hai việc.
Từ khoảnh đất bằng, ông cùng Hổ đi lên theo một vệt chân người tới sau bụi gai. Thanh Nghi và Bảo đứng nơi nhìn thấy họ. Một lúc sau Hổ gọi: vệt ngoài thực sự nối tới phía này, nhưng có một bậc đá cao và gốc cây chắn lối. Người có thể bước qua; ông Tấn chưa biết la có chỗ đặt chân an toàn hay không.
Khi hai người trở lại, Bảo vẽ đoạn nối vào sổ bằng nét mảnh, ghi “đã thấy hai đầu, chưa dẫn la”. Hắn hỏi ông Tấn nếu dọn bậc đá và thoát nước thì có làm đường được không.
“Có thể tìm cách, nhưng ta không muốn trả lời trước khi xem cùng người biết sườn này.” Ông gõ cán cuốc xuống nền đất bằng. “Lối mỏ là đường nhiều người dùng. Nếu ta làm đất trượt, người gánh hàng cũng mất đường. Ta sẽ hỏi tổ sửa đường ở dốc xem ai đến được.”
Bảo thở dài. Ông Thạch nhìn hắn, lấy từ túi một quả khoai luộc đã nguội, bẻ đôi đưa. Hắn nhận, nhai một miếng rồi hỏi ông có thấy chờ lâu không.
“Có. Hàng chậm thì tiền cũng chậm.” Ông cắn phần của mình. “Nhưng hôm qua cậu trả tiền ta để dẫn tới chỗ hai lối, không trả để ta nói đường la đi được. Ta không bán được câu ấy nếu chưa biết.”
Bảo nhìn miếng khoai, rồi nhìn phía tảng đá. Hắn hiểu ông Thạch không giữ câu trả lời vì muốn được trả thêm; ông không có nó. Hắn ăn hết khoai, cất vỏ vào túi để mang về bỏ đúng chỗ.
Lúc quay lại, họ thấy mực nước ở rãnh đầu lối gần bằng lúc sáng, nhưng que lại nghiêng thêm. Bảo hỏi ông Tấn có thể đặt dấu cao hơn trên một tảng đá không. Ông cho hắn dùng than đánh vạch trên mặt đá khô, rồi nhắc ghi vạch ấy ở đâu và nhìn từ hướng nào. Hắn làm một hình nhỏ trong sổ, giữ lại số đo cũ với lời chú thích que đã nghiêng.
Về trạm, ông Tấn nhận tiền khảo sát đã bàn. Ông nói sẽ hỏi tổ sửa đường, hẹn sáng mai nhắn lại nếu tìm được người. Hổ mời ông ăn tối, nhưng ông Tấn nói đã hẹn ăn ở nhà và cảm ơn nhóm vì phần lương mang theo trên đường. Bà chủ trạm nghe tình hình, bảo có thể chuyển lời nếu ông tới lúc nhóm vắng mặt.
Tối, Thanh Nghi trải các trang đường lên bàn: chỗ cầu mất, lối mỏ sát vách, vệt ngoài và khoảnh đất bằng phía sau. Bảo dùng các nét khác nhau cho đường đã đi, đường mới nhìn thấy và chỗ chưa khảo sát. Hắn không vẽ một nét liền qua rãnh bị khoét.
Ô Kê nhảy lên ghế, vươn mỏ về phía mảnh giấy. Hắn đưa nó xuống, lấy bát thóc đặt xa bàn. Con gà mổ một lúc, rồi lại chạy đến. Bảo đành đặt túi lương trong lồng trống của nó để giữ khỏi bị mổ, còn lồng gà chuyển ra chỗ khác.
Hổ nhìn cách hắn đổi chỗ đồ. “Em vừa mở đường cho cái túi.”
“Còn đường cho Xám,” Bảo đáp, “phải hỏi thêm người.”
Ngoài sân, con la đã nằm xuống trên lớp rơm. Bảo cất sổ, nhìn lần cuối khoảng trống ở vệt ngoài tảng đá. Hôm nay họ đã thấy lối nối sang phía sau. Khoảng trống còn lại nằm dưới chân, đúng chỗ nước đã khoét mất nền đường.