Chương 214: Cuốn Sổ Chưa Được Giao
Người đàn ông ở xóm bên khe mang đến một chiếc hộp tre.
Ông tìm Tạ Tiểu Bảo ở cửa ngoại viện, bảo mẹ đã đỡ ho và ăn được nửa bát cháo. Người xem bệnh trong xóm vẫn ghé, Dư An hẹn nếu cần sẽ lên lần nữa. Trong hộp là những giấy tờ cha ông để lại; ông muốn hỏi Mạc Trì xem có tờ nào liên quan tới mái nghỉ không.
Bảo hỏi ông có định lên núi hôm nay không. Ông lắc đầu, nói phải đưa gạo về nhà trước, nhưng có thể ghé mái nghỉ sáng mai. Hắn kể Mạc Trì đã nhờ hỏi thăm mẹ ông, rồi hỏi có thể chuyển tin bà đã ăn được cháo không. Người đàn ông đồng ý, dặn nói rõ bà vẫn cần người chăm.
Hắn mở hộp tre trên chiếc bàn dưới mái. Trong đó có giấy mua hạt giống, một mảnh biên nhận cũ và một cuốn sổ nhỏ đã mất bìa. Ông chọn cuốn sổ, lật vài trang rồi dừng lại.
“Cha tôi chép lại những nơi từng nhận hàng. Đây là tên trạm dưới chân núi.”
Thanh Nghi đang từ phòng ghi chép đi ra, được ông cho xem trang ấy. Một dòng ghi gạo đưa tới trạm; dòng tiếp theo là “sổ mới gửi qua mái bắc”, không ghi tên người nhận. Ngày tháng còn rõ, nhưng không nói cuốn sổ ấy có được giao hay không.
Bảo nhớ giấy của Mạc Trì có câu “sổ giao sau”. Hắn không đem hai câu ghép thành một. Người đàn ông cũng chỉ biết cha từng chở hàng, chưa biết cuốn sổ này có liên quan tới người giữ bếp hay không.
“Ông muốn tự mang lên hỏi chứ?” Thanh Nghi nói.
“Ừ. Tôi muốn hỏi ông ấy ngày ghi này có ý nghĩa gì.”
Hứa Đồng nghe họ bàn, cho Bảo và Thanh Nghi nghỉ buổi sáng hôm sau sau khi đã thu xếp người trực. Ông Từ chuyển lời tới bà Viên nhờ dẫn đường và báo trước cho bà Liên. Chuyến này không thuộc việc của Nhất Dực Hội; người đàn ông sẽ tự mang và giữ cuốn sổ của cha.
Tối, Bảo kể với Hổ chuyện mẹ người khách đã ăn được cháo. Hổ hỏi ông ấy có mang thuốc lên bếp không. Bảo nói chỉ mang giấy, còn người bệnh ở nhà với gia đình. Hai người tới khu nuôi, giúp người coi chuyển máng vào chỗ khô trước cơn mưa. Ô Kê đi theo Hổ một đoạn trong sân, rồi quay lại khi người coi gọi.
Sáng hôm sau Bảo ăn cơm với đậu, mua một chiếc bánh bằng tiền riêng. Hắn ăn nửa chiếc ở chân dốc, để nửa còn lại trong túi. Thanh Nghi mang bình nước; bà Viên mang gậy như mọi lần. Người đàn ông cột hộp tre sát vào lưng, bảo nếu mưa thì hộp vẫn có lớp vải dầu bên trong.
Bà Liên đón họ ở mái nghỉ. Chiếc chậu hứng nước gần như khô; hôm qua có mưa nhỏ nhưng bà không thấy nước rơi ở chỗ cũ. Bà nói sẽ để chậu thêm một thời gian. Hổ gửi lời hỏi tấm vải che củi; bà bảo dùng được, bà đã buộc thêm đầu còn hở.
Mạc Trì nghe tiếng khách, ngẩng lên. Người đàn ông đứng trước cửa, nói mẹ ông đã ăn cháo, vẫn còn yếu nhưng có người theo dõi. Mạc Trì cầm tờ giấy ghi lần ông đến, nhìn một lúc rồi hỏi: “Bà có ngủ được không?”
“Đêm qua ngủ được hơn trước.”
Ông giữ bếp đặt tờ giấy xuống. “Ta đã chờ tin.”
Người đàn ông tháo hộp tre, lấy cuốn sổ của cha. Ông nói mình không tới nhận phần, chỉ muốn hỏi một dòng ghi về sổ gửi qua mái bắc. Mạc Trì đồng ý xem. Thanh Nghi ngồi cạnh bàn, sẵn giấy nhưng chờ hai người cho phép mới ghi.
Ngày trên cuốn sổ của người đàn ông cũ hơn những trang chi tiền trạm mà Bảo đã thấy. Người khách chỉ biết cha chép lại từ giấy của ông nội; không ai trong nhà nhớ bản gốc còn ở đâu. Mạc Trì đọc rất chậm, đến dòng “sổ mới gửi qua mái bắc” thì đặt ngón tay lên đó.
“Người giao có mang tới,” ông nói. “Nhưng không để sổ lại.”
Bảo nhìn ông. “Vì sao ạ?”
“Ông ấy nói người nhận chưa đến. Ông ấy để giấy, bảo sổ sẽ giao sau.”
Mạc Trì mở hộp nhỏ, lấy tờ giấy gấp tư đã cho họ xem hôm trước. Dòng “sổ giao sau” nằm dưới dấu tay dính mực. Ông đặt hai tờ cạnh nhau nhưng không để mép chạm vào phần ẩm của cuốn sổ dày.
“Người mang sổ là người mất một đốt ngón tay?” Thanh Nghi hỏi.
“Ta nhớ bàn tay ấy.” Ông ngừng lại. “Nhưng ta không nhớ người mang sổ và người dạy ta có phải một người không.”
Người đàn ông xem dấu tay. “Cha tôi không mất ngón. Tôi không biết ông nội có từng gặp người này không.”
Ông cho Thanh Nghi chép ngày cùng dòng nói về cuốn sổ, còn những trang ghi việc gia đình được giữ riêng. Bảo hỏi liệu cuốn sổ mới có thể đang ở nhà ông không. Người đàn ông nói đã tìm trong hộp và rương, chưa thấy cuốn nào khác; ông sẽ hỏi em gái xem còn giấy để ở nhà cũ không.
Mạc Trì gấp mảnh giấy của mình lại. “Vậy ta vẫn chờ.”
Bảo nhìn chiếc đôn dưới chân ông, rồi nhìn cuốn sổ dày. “Nếu chưa tìm được người mang sổ, con có thể học để giúp ông đối những dòng đọc được không?”
“Ngươi còn sổ của ngươi.”
“Con sẽ ghi ở sổ của con. Không ký vào sổ ông.”
Ông giữ bếp nhìn hắn, rồi lật một trang không bị dính. Ở đó có bốn dòng tên, bên cạnh là các dấu và số. Ông chỉ một dòng đã có nét ngang: người đến nhận mang giấy, tên và số khớp, sau đó người trực ghi ngày. Dòng thứ hai có tên nhưng không có ngày, vì chưa có người tới. Hai dòng còn lại mờ, ông bảo không đọc thay phần đã mất.
Bảo chép một ví dụ không mang tên thật: “Tên khớp, số khớp, ghi ngày.” Hắn đọc lại. Mạc Trì sửa: “Phải hỏi người nhận trước. Nếu số trên giấy khác, không tự sửa cho khớp.” Hắn thêm câu ấy vào sổ.
Người đàn ông ở xóm bên khe ngồi ngoài cửa, nghe mà không ngắt lời. Một lát sau ông hỏi: “Nếu người cần phần không biết chữ thì sao?”
Mạc Trì đáp: “Người trực đọc cho họ nghe.”
“Nếu họ không có giấy?”
Ông giữ bếp nhìn tờ ghi lần khách đến. “Ta đã ghi tên ông ở giấy ngoài. Ta chưa biết lấy phần nào cho mẹ ông.”
Người đàn ông im lặng. Ông không xin mở nồi nữa. Bà Liên đặt một bát nước cạnh ông; ông nhận, nói cảm ơn. Bảo thấy Mạc Trì nhìn theo bàn tay ông cầm bát, rồi tự kéo chén nước của mình lại gần.
Đến trưa, họ ăn dưới mái ngoài. Bảo lấy nửa chiếc bánh còn lại, hỏi người khách đã có cơm chưa. Ông mở khăn cho xem hai nắm cơm nhỏ, một nắm cho mình, một nắm để mang về cho em gái nếu nàng chưa ăn. Bảo giữ bánh, ăn cùng phần cơm của hắn. Bà Viên bóc một quả quýt, đặt múi trên đĩa; ai muốn thì lấy.
Bà Liên hâm cháo cho Mạc Trì. Hôm nay ông ăn chậm nhưng hết bát, rồi hỏi Dư An bao giờ trở lại xem chân. Thanh Nghi nói theo lịch ông hẹn là hai hôm nữa; nếu có gì thay đổi, bà Viên sẽ chuyển tin. Ông giữ bếp đặt bát xuống, nhờ bà Liên đưa giúp chiếc khăn lau tay.
Lúc chia tay, người đàn ông nói nếu tìm được giấy của ông nội sẽ mang cho Mạc Trì xem, không để cuốn sổ ở đây vì em gái cũng cần xem. Mạc Trì bảo ông giữ, chỉ cần báo nếu có dòng về người nhận ca. Bảo và Thanh Nghi không cầm hộp tre thay ông; đường xuống trơn, bà Viên đi trước chỉ chỗ đặt chân.
Về tới ngoại viện, Bảo trực bù như đã hẹn. Hắn ghi xe ra vào, trả lại cho người giao hàng chiếc bút người ấy bỏ quên, rồi mới sang phòng Hứa Đồng. Ông đọc bản chép và hỏi Mạc Trì có chắc cuốn sổ được nhắc đến là cùng một cuốn không. Bảo đáp ông nói từng có người mang sổ tới nhưng không để lại; ông không nhớ rõ người mang và người dạy có phải một người.
Hứa Đồng ghi lời ấy cạnh bản chép, không nối hai câu bằng dấu bằng. Ông hỏi có ai khác đang tìm cuốn sổ không. Bảo nói chưa biết; người đàn ông sẽ hỏi em gái, còn ông Từ có thể hỏi người giữ tuyến cũ nếu Mạc Trì đồng ý chia sẻ phần thông tin ấy.
Tối, Hổ nghe chuyện một hồi rồi hỏi: “Nếu cuốn sổ kia mất thật thì ông ấy phải chờ đến bao giờ?”
Bảo không có câu trả lời. Hắn nghĩ tới Mạc Trì đã cho mình học cách đối, dù chưa cho nhận ca. Nếu có một người khác mang sổ tới, hắn muốn biết đủ để giúp ông đọc. Còn nếu không có ai tới, câu hỏi của Hổ vẫn nằm đó.
Hai người kiểm lại máng Ô Kê với người coi. Bảo ăn cơm tối, ghi tiền chiếc bánh đã mua vào sổ chi rồi cất khăn tiền. Trên bàn có bản chép “sổ giao sau” và dòng “sổ mới gửi qua mái bắc”. Hắn đặt chúng cạnh nhau, giữ nguyên một khoảng cách nhỏ.